07:44 +07 Chủ nhật, 22/10/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Khoa - Tổ chuyên môn » Khoa GD Chính trị

KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VỚI MỘT SỐ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁC TRONG GIẢNG DẠY MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO NGƯỜI HỌC

Thứ sáu - 12/05/2017 07:27
KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VỚI MỘT SỐ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁC TRONG GIẢNG DẠY MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO NGƯỜI HỌC
Đặng Thị Mai
Khoa GDLLCT – Trường Cao đẳng Hải Dương
              Trong dạy học, không có một phương pháp nào là vạn năng, duy nhất có thể chuyển tải được vấn đề nhận thức cho người học bởi lẽ mỗi PPDH có những ưu,  nhược điểm riêng, thế mạnh và hạn chế riêng của nó. Do vậy, cần phối hợp các PP để phát huy thế mạnh, đồng thời hạn chế nhược điểm của mỗi PP trong quá trình dạy học. Chính vì vậy, sử dụng PPTLN trong dạy học TTHCM cần kết hợp với các PPDH hiện đại khác nhằm phát triển năng lực của SV.
Dựa trên cơ sở nghiên cứu về nội dung TTHCM cùng với đặc thù của mỗi PPDH cho thấy TLN thường được sử dụng với PP trực quan, nghiên cứu trường hợp, nêu và giải quyết vấn đề. Đây là những PP có mối liên hệ chặt chẽ với TLN nhằm phát triển năng lực cho SV.    
            1. Kết hợp TLN với PP trực quan
            Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quá trình nhận thức của con người diễn ra theo hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính hay trực quan sinh động là giai đoạn nhận thức mà con người sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh sự vật, hiện tượng khách quan mang tính cụ thể với những biểu hiện phong phú, đa dạng của nó trong mối quan hệ với sự quan sát của con người. Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức với sự phản ánh gián tiếp, khái quát bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan. Hai giai đoạn này có mối liên hệ mật thiết với nhau hợp thành chu trình nhận thức của con người.  
Trực quan là quá trình quan sát, nhận biết các sự vật hiện tượng bằng các giác quan của con người. Phương tiện trực quan là những công cụ mà người dạy và người học sử dụng PP trực quan là PPDH trong đó GV sử dụng đồ dùng, phương tiện dạy học nhằm mục đích minh họa, bổ sung kiến thức cho bài giảng
Có thể khẳng định rằng hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ của con người là hình ảnh thu nhận được thông qua trực quan. Sử dụng PP trực quan trong dạy học TTHCM nhằm tái hiện lại những điều xảy ra trong quá khứ giúp sinh viên hiểu sâu sắc bản chất của các sự kiện lịch sử, về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, PP trực quan tạo điều kiện phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của SV. Thông qua các hình ảnh trực quan, những phẩm chất đạo đức, cảm xúc thẩm mĩ, tình cảm của SV được hình thành và hoàn thiện.
             Để SV nhớ được những điều quan sát cũng như kết quả của quá trình quan sát đó mang tính toàn diện, hệ thống, đồng thời giải quyết những nhiệm vụ của bài học đặt ra nhất thiết phải sử dụng PPTLN. Điều đó thể hiện nấc thang phát triển trong lý luận nhận thức hay nói cách khác, từ nhận thức cảm tính đã chuyển sang nhận thức lý tính, từ những quan sát ban đầu, người học xâu chuổi các thông tin, sự kiện, khái quát, suy luận dựa trên tinh thần và sức mạnh của tập thể. Bản thân cá nhân người học trong quá trình quan sát các hình ảnh trực quan với rất nhiều sự vật, hiện tượng, sự việc diễn ra khó có thể toàn vẹn. Tổ chức TLN cho SV sau khi quan sát sẽ giúp cho cách nhìn về sự vật, sự việc tương đối đầy đủ và hoàn thiện. Quy trình sử dụng PPTLN kết hợp với PP trực quan diễn ra theo các giai đoạn sau:
            - Giai đoạn 1: Chuẩn bị. Đây là giai đoạn định hướng có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả của bài học. Sự chuẩn bị này được thực hiện ở cả phía GV và SV.
           Về phía GV cần: Thứ nhất, xác định mục đích, yêu cầu, nội dung của bài học từ đó lựa chọn những đơn vị kiến thức có thể sử dụng phương tiện trực quan. Bởi lẽ, không phải bất cứ nội dung nào trong môn TTHCM cũng sử dụng được phương tiện trực quan nên việc lựa chọn này đảm bảo tính hiệu quả, tránh sự lạm dụng trong dạy học. Thứ hai, xác định hình thức trực quan phù hợp với nội dung bài học. Hình thức trực quan trong dạy học TTHCM rất đa dạng, phong phú bao gồm: tranh ảnh, mô hình, phim tài liệu, video clip…Việc lựa chọn hình thức trực quan phù hợp giúp SV hứng thú quan sát, tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt những nhiệm vụ tiếp theo. Thứ ba, xác định nhiệm vụ quan sát và lập kế hoạch cho SV kết hợp quan sát với TLN.
          Về phía SV cần: nghiên cứu nội dung đơn vị kiến thức trong giáo trình, chuẩn bị đồ dùng theo yêu cầu của GV.
          - Giai đoạn 2: Tổ chức QS kết hợp TLN. Đây là giai đoạn rất quan trọng diễn ra sự tương tác giữa GV và SV và có tác dụng quyết định đến kết quả của quá trình dạy học.               Trong giai đoạn này, GV nghiên cứu kỹ nội dung trực quan và nêu yêu cầu SV tập trung quan sát để tránh sự dàn trải. Trên cơ sở kết quả quan sát và TLN, các nhóm thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của GV và trình bày kết quả quan sát. GV nhận xét, đánh giá và chốt lại những vấn đề cơ bản về nội dung mà SV quan sát.
          b. Kết hợp PPTLN với PP nghiên cứu trường hợp
          Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study) là phương pháp dạy học trong đó trọng tâm của quá trình dạy học được thực hiện thông qua việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một trường hợp được lựa chọn trong thực tiễn. Từ đó, người học thu nhận được kiến thức, kinh nghiệm, phát triển kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng với nghề nghiệp và cuộc sống sau này.
          Nghiên cứu trường hợp là một trong những phương pháp được sử dụng trong dạy học Tư tưởng Hồ Chí Minh để người học nhận diện, đánh giá và thẩm thấu một cách tự nhiên giá trị môn học. Đặc biệt, trong quá trình sử dụng, nghiên cứu trường hợp muốn phát huy được hiệu quả cần có sự gắn kết chặt chẽ với TLN. Từ những vấn đề của cuộc sống thường nhật hay những vấn đề nổi cộm trong nghề nghiệp của từng chuyên ngành với những hình thức biểu hiện thuận, nghịch; tích cực hay tiêu cực, dưới sự dẫn dắt của giảng viên, người học cập nhật, phân tích thông tin, hợp tác trong giải quyết vấn đề, bày tỏ ý kiến của bản thân và đặc biệt hình thành khả năng tranh luận để bảo vệ ý kiến. Từ đó, SV yêu thích môn học hơn do nhận thức được ý nghĩa thực tiễn của bài học; biết trân trọng ý kiến người khác thông qua thảo luận, tranh luận; nâng cao ý thức cộng đồng thông qua làm việc nhóm; biết phê phán thông qua việc nhận xét các ý tưởng của người khác. Hơn nữa, bản thân người học trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể sẽ tự tìm hiểu, xây dựng, đề xuất các tình huống khác liên quan đến kiến thức môn học. Như vậy, nghiên cứu trường hợp gắn với TLN chính là việc sử dụng thực tiễn để tích cực hóa hoạt động học tập theo nhóm của SV.
            Sử dụng PP nghiên cứu trường hợp kết hợp với TLN theo định hướng PTNL trong dạy học TTHCM được tiến hành theo các bước sau:
            Bước 1. Tìm các case để tiến hành TLN. Để có các Case trong quá trình giảng dạy, GV có thể thu thập từ các nguồn tư liệu sẵn có hay tự xây dựng lấy. Nguồn tư liệu sẵn có để hình thành “case”  hiện nay vô cùng đa dạng, phong phú thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: sách, báo, tạp chí, phim, ảnh, internet,... Điều quan trọng là GV biết cách chọn lọc thông tin cho phù hợp với mục đích, nội dung, thời gian và đối tượng dạy học. Các nguồn tư liệu khác ấy có thể là một hoặc một chuỗi các bài viết trên báo về một vấn đề nào đó, một đoạn phim tư liệu, một bảng số liệu, một mẩu kịch ngắn... Bên cạnh đó, GV có thể tự xây dựng các “case” cho sát với yêu cầu và mục đích của môn học. Nội dung những “case” này thường dựa trên những tình huống, dữ kiện đã và đang diễn ra trong thực tiễn nhưng được sắp xếp, “hư cấu” lại để vấn đề nêu ra được súc tích, giàu thông tin, và đáp ứng tốt hơn mục đích mà GV hướng đến.
            Ví dụ, khi dạy về phẩm chất đạo đức của người cách mạng trong nội dung TTHCM về đạo đức đối với SV chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, GV có thể sử dụng thông tin sau: 
 “Chiều ngày 23/11/2013, cô Lê Thị Minh Châu - Hiệu trưởng Trường tiểu học Quang Trung (TP Vinh) cho biết đã tạm đình chỉ đối với cô giáo Nguyễn Thị Minh Nguyệt, chủ nhiệm lớp 1A, người đã bị phụ huynh tố cáo dùng thước đánh vào mặt học sinh gây chảy máu. Chị Nguyễn Thị Hồng, phụ huynh em Huỳnh Vũ Kiệt, học sinh lớp 1A  kể lại: “Hôm 8/11/2007, tui đi đón con thì thấy bên phía mắt con chảy máu và sưng tấy. Hỏi thì cháu bảo cô Nguyệt gọi cháu đứng ra trước lớp rồi dùng thước đánh vào tay cháu vì tội viết bài chậm. Sau đó cháu quay về chỗ ngồi thì bị cô Nguyệt dùng thước ném theo. Mép nhọn của thước trúng vào phía dưới mắt trái khiến mí mắt rách một đường dài và chảy máu…”. Chị Hồng tiết lộ, trước đó cô Nguyệt cũng đã đánh cháu Kiệt chảy máu tay nhưng vì sau những lần đó cô Nguyệt đều tỏ ra hối lỗi nên gia đình cũng cho qua. Lần này vì quá bức xúc nên gia đình mới viết đơn phản ánh gửi các phương tiện thông tin đại chúng”.(Theo Dân trí.vn)
           Bước 2. Giao nhiệm vụ và chia nhóm. Căn cứ vào Case và nội dung kiến thức của bài học, GV yêu cầu SV TLN. Nội dung TLN được tiến hành ở hai cấp độ: Cấp độ 1 yêu cầu SV dựa vào lý thuyết để phát hiện vấn đề trong trường hợp và phân tích trường hợp. Cấp độ 2 yêu cầu SV đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong trường hợp. Với Case trên, nhiệm vụ các nhóm cần giải quyết bao gồm:
          1. Bằng kiến thức Tư tưởng Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo đức cách mạng, anh chị hãy cho biết hành động của cô giáo Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã vi phạm chuẩn mực đạo đức nào trong tư tưởng của Người? Hành động đó có  ảnh hưởng gì đối với học sinh?
          2. Là giáo viên Tiểu học trong tương lai, anh (chị) sẽ thực hiện các chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như thế nào?
         Bước 3. Các nhóm tiến hành thảo luận và báo cáo kết quả TL trước lớp. Thông qua việc nghiên cứu case, mỗi nhóm thực hiện nhiệm của mình. GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ để các nhóm hoàn thành nhiệm vụ và báo cáo kết quả của nhóm mình.
         Trên cơ sở nghiên cứu tình huống kết hợp với nội dung kiến thức bài học, mỗi nhóm sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình. Những case này đều gắn liền với thực tiễn nghề nghiệp và cuộc sống của người học, giúp họ nhận diện, đánh giá một cách khách quan về các vấn đề đồng thời gia tăng ý nghĩa của việc nghiên cứu, làm việc nhóm, từ đó khiến SV hăng hái, tích cực chiếm lĩnh tri thức môn học. Kiến thức TTHCM không chỉ dừng lại ở mặt lý luận mà nó được thể hiện rõ nét trong từng ngành nghề cụ thể của người học.
          c. Kết hợp PP nêu và giải quyết vấn đề với PPTLN
          Vấn đề là một khái niệm dùng để chỉ những mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống, được biểu thị bằng những câu hỏi hay bài toán và đều phản ánh những mâu thuẫn cần giải quyết để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống. PPDH nêu vấn đề là PP trong đó GV đặt ra trước SV một hay hệ thống vấn đề để nhận thức, chuyển SV vào tình huống có vấn đề sau đó GV phối hợp với SV giải quyết vấn đề để đi đến những kết luận cần thiết gắn với nội dung bài học.
TLN trong giải quyết vấn đề là cách làm hữu hiệu trên cơ sở phát huy tinh thần và sức mạnh của tập thể để tập hợp được những cách giải quyết tốt nhất trong thời gian ngắn nhất. Với sự tiếp cận đa diện, đa chiều, các vấn đề đưa ra sẽ được giải quyết thấu đáo nhất. Việc kết hợp PPDH nêu vấn đề với TLN trong dạy học TTHCM có thể được tiến hành theo các bước sau:
           Bước 1. Xây dựng tình huống có vấn đề. Đây là khâu rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả giải quyết vấn đề của SV. Việc xây dựng tình huống có vấn đề cần được tiếp cận trên 3 phương diện sau: triết học (sự mâu thuẫn), tâm lý học (sự hứng thú), giáo dục học (tính vừa sức). Yếu tố quan trọng nhất của tình huống có vấn đề là phải có mâu thuẫn bởi lẽ có mâu thuẫn thì mới có vấn đề cần giải quyết, mới kích thích được hoạt động tư duy của SV. Bên cạnh đó, tình huống có vấn đề phải lí thú, hấp dẫn, lôi cuốn SV làm cho các em say sưa học tập, tìm tòi cái mới. Những tình huống này vừa gắn chặt với mục đích và nội dung bài học, vừa mang tính thực tiễn cao, gần gũi với cuộc sống. Hơn nữa phải có tính vừa sức bởi lẽ kết quả của việc giải quyết vấn đề phụ thuộc vào trình độ nhận thức của người học. Dù cho tình huống đó có lý thú đến mấy mà không vừa sức thì SV cũng không thể giải quyết được. Để xây dựng được các tình huống có vấn đề, GV có thể dựa vào các câu chuyện lịch sử, những câu chuyện viễn tưởng, chuyện vui, chuyện cổ tích, dựa vào phương pháp và các hoạt động đặc thù của môn học, xử lí các số liệu thực thống kê, điều tra, khảo sát… từ đó so sánh chúng để tìm ra những bất ngờ. Bên cạnh đó, tình huống có vấn đề có thể xây dựng từ thực tiễn hay khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới… Tùy vào nội dung đơn vị kiến thức, GV có thể linh hoạt lựa chọn tình huống có vấn đề cho phù hợp. Ví dụ 1. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng Cộng sản ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân. Tại sao Hồ Chí Minh lại cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước? Khi giải quyết vấn đề này, SV hiểu được sự tiếp biến của TTHCM làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Ví dụ 2. Để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, phương pháp cách mạng có ý nghĩa quyết định là sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho rằng đánh đi đôi với đàm. Tại sao? Khi nghiên cứu vấn đề này, SV hiểu rõ sự linh hoạt trong tư duy của Hồ Chí Minh trong cách mạng khi kết hợp đấu tranh vũ trang với tìm kiếm những giải pháp hòa bình, tránh tổn thất về lực lượng.
             Bước 2. Tổ chức TLN để giải quyết vấn đề.
             SV của mỗi nhóm huy động vốn kinh nghiệm mà họ đã thu nhận được để lựa chọn những kiến thức cần thiết liên quan đến việc giải quyết những mâu thuẫn trong vấn đề nêu ra. Việc giải quyết vấn đề theo nhóm sẽ giúp SV chủ động chiếm lĩnh tri thức của bài học đồng thời ghi nhớ một cách sâu sắc nhất kiến thức thông qua vấn đề đã tìm hiểu và giải quyết.
            Bước 3. Tổng kết, đánh giá. Sau khi SV báo cáo kết quả TLN của nhóm mình, GV chính xác hóa nội dung kiến thức của chủ đề thảo luận.
 

Tác giả bài viết: Đặng Thị Mai

Nguồn tin: Khoa GDLLCT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017