22:29 +07 Thứ năm, 17/08/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Khoa - Tổ chuyên môn » Khoa GD Chính trị

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở THPT

Thứ bảy - 05/04/2014 21:29
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD Ở THPT
                                                                            Th.s Tạ Thị Thúy Ngân
                                                                             Trường: Cao đẳng Hải Dương
          Mở đầu: Muốn trở thành người công dân tốt, ai cũng cần được giáo dục về quyền lợi và nghĩa vụ của mình để tự giác thực hiện cho đúng. Môn học “Giáo dục công dân” tự tên gọi đã nói lên vị trí quan trọng của nó trong nội dung giáo dục toàn diện của nhà trường, góp phần tích cực vào việc hình thành và hoàn thiện nhân cách học sinh để trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội. Để làm được điều này, đòi hỏi người giáo viên giảng dạy môn GDCD phải phát huy tính tích cực của học sinh, khơi dậy hứng thú của các em trong quá trình học tập.
         
          Việc phát huy tính tích cực của người học trong quá trình dạy học từ lâu đã được những nhà giáo dục coi là một trong những điều kiện cơ bản nhất  để đạt kết quả trong quá trình dạy học. Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục đã chú ý đến việc tìm tòi các biện pháp để phát huy tính tích cực nhận thức của người học. Socrate (469-399 TCN) là một triết gia và cũng là một nhà giáo dục nổi tiếng. Phương pháp nổi bật của ông trong giáo dục là dùng đàm thoại để tiến hành giáo dục. Ông thường đặt câu hỏi để môn đệ phải tìm tòi, suy nghĩ trả lời, thấy được cái sai, cái đúng. Khổng tử (551 - 479 TCN) cũng cho rằng trong giảng dạy người thầy chỉ “gợi lên một mối”, rồi để cho người học tự mình suy nghĩ mà hiểu điều đó. Phương pháp này đã tạo điều kiện cho người học phát huy khả năng suy luận và năng lực phát hiện, lý giải vấn đề, phát huy tính tích cực nhận thức của  mình.
          Từ đầu thế kỷ XX đến nay, việc dạy học tích cực được đề cập đến khá rầm rộ dưới nhiều thuật ngữ khác nhau như “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, “dạy học hướng vào người học”, “dạy học tập trung vào người học”, “phương pháp dạy học tích cực”, “tư tưởng dạy học tích cực”…Thuật ngữ “nhà trường tích cực” xuất hiện năm 1920 dưới ngòi bút của A.Ferriere. Từ đó “phương pháp tích cực” được sử dụng một cách phổ biến ở châu Âu. Cùng với xu thế trên của thế giới, ở Việt Nam việc dạy học theo hướng phát huy tính tích cực người học được nhấn mạnh trong đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước. Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII của Đảng đã khẳng định “phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại Khoản 2, Điều 28 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.  
        Thực hiện định hướng trên của Đảng và Nhà nước, giáo viên cả nước nói chung, giáo viên giảng dạy GDCD ở các trường THPT nói riêng trong những năm qua đã tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm tòi các biện pháp để phát huy tích cực học tập, tư duy sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa “nhập cuộc”, vẫn lên lớp giảng dạy với những phương pháp rất đỗi quen thuộc: chỉ thuyết trình hoặc thuyết trình kết hợp một số rất ít các câu hỏi đàm thoại.. Tại Hội thảo “Đánh giá hiệu quả dạy học môn GDCD” tháng 4 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhận định: Giáo viên dạy GDCD đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, hiện tượng dạy học lệ thuộc vào sách giáo khoa và sách giáo viên còn phổ biến. Việc rèn luyện kĩ năng và giáo dục thái độ và hành vi của học sinh trong dạy học môn GDCD thực hiện chưa đạt được yêu cầu đề ra của chương trình. Thực trạng trên đòi hỏi người giáo viên GDCD trong nhà trường phổ thông cần phải phát tăng cường đổi mới phương pháp pháp giảng dạy, không ngừng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập. Trong giờ học môn GDCD, phải cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập do giáo viên thiết kế, tổ chức và hướng dẫn, qua đó học sinh có thể tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học, học sinh sẽ hứng thú, thông hiểu và ghi nhớ những gì các em nắm được qua hoạt động chủ động, tích cực của chính mình. Quá trình sử dụng các phương pháp dạy học phải huy động, khai thác tối đa vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của học sinh; tạo cơ hội, động viên và khuyến khích các em bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học như những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp luật…Để làm được điều này, người giáo viên dạy học GDCD cần tập trung vào những biện pháp chủ yếu sau:
          Một là, vận dụng một cách linh hoạt cả phương pháp dạy học hiện đại và phương pháp dạy học truyền thống trong giảng dạy môn GDCD
          Để phát huy được tích tích cực học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào cách sử dụng phương pháp của giáo viên chứ không phải là phụ thuộc vào bản thân phương pháp đó. Việc lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nội dung bài học, đối tượng học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường, sở trường của giáo viên… Giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học như thế nào để người học được hoạt động tích cực về mặt nhận thức cũng như về mặt thực hành để họ tự khám phá ra tri thức mới. Theo lý luận dạy học, về mặt nhận thức thì các phương pháp hoạt động thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì “tích cực” hơn phương pháp dùng lời. Nhưng đối với môn GDCD, do đặc thù của môn học nên việc vận dụng một số phương pháp rất khó thực hiện, chẳng hạn như phương pháp thực hành. Mặt khác, chúng ta cũng không nên quan niệm một cách cứng nhắc rằng phương pháp này tích cực hơn hay phương pháp kia tốt hơn mà vấn đề là ở chỗ trên cơ sở nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của chúng để vận dụng sao cho hiệu quả theo mục đích , khả năng của giáo viên và học sinh. Có thể lấy ví dụ về phương pháp dùng lời hay chúng ta thường gọi là phương pháp thuyết trình - đây là phương pháp có thể làm cho học sinh thụ động nhưng cũng có thể dùng lời tạo nên mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết thì người học sẽ tích cực suy nghĩ để giải quyết mâu thuẫn đó. Như vậy, mặt bên ngoài của phương pháp mà ai cũng nhận ra đó là phương pháp dùng lời nhưng mặt bên trong của phương pháp đã thể hiện mức độ tính tích cực nhận thức của học sinh, đòi hỏi tư duy tìm tòi, sáng tạo của các em.
          Như vậy, giáo viên phải nhận thức sâu sắc rằng để phát huy tính tích cực của học sinh không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ hoặc thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống. Đối với môn GDCD, do đặc thù tri thức của bộ môn, nên các phương pháp truyền thống nếu biết vận dụng hợp lý thì vẫn rất hiệu quả. Vấn đề là ở chỗ: cần kế thừa và phát triển những mặt tích cực của phương pháp dạy học truyền thống như phương pháp thuyết trình, vấn đáp… Đồng thời vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các phương pháp hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập phù hợp với hoàn cảnh dạy học bộ môn hiện nay như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tình huống, đóng vai hoặc tấn công não… Thực tiễn giảng dạy môn GDCD chứng minh rằng vận dụng hợp lý các phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại sẽ mang lại hiệu quả dạy học rất cao.   
          Hai là,  dạy học GDCD phải gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh
        Về bản chất, GDCD là môn học giáo dục học sinh cách sống và ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội, với quyền và nghĩa vụ của người công dân. Chính vì vậy, để dạy học môn GDCD có hiệu quả cần gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống của học sinh. Cụ thể là giáo viên cần tăng cường sử dụng các tình huống, các trường hợp điển hình, các hiện tượng thực tế, các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội để phân tích, đối chiếu, minh hoạ cho bài giảng. Đồng thời cũng cần khuyến khích học sinh liên hệ, tự liên hệ; tiến hành điều tra, tìm hiểu, phân tích, đánh giá các sự kiện trong đời sống thực tiễn của lớp học, nhà trường, địa phương, đất nước trong quá trình học tập. Đặc biệt, cần tạo cơ hội và hướng dẫn học sinh xây dựng và thực hiện các dự án nhỏ để góp phần vào việc cải thiện môi trường tự nhiên và xã hội của lớp học, trường học và địa phương. Việc đưa thực tế đời sống vào bài giảng GDCD thực sự là vấn đề sống còn của phương pháp giảng dạy bộ môn này. Tuy nhiên, khi gắn nội dung môn học với thực tiễn cuộc sống của học sinh giáo viên cần chú ý khắc phục những lỗi sau: Thứ nhất, những kiến thức liên hệ còn bị gò ép, khiên cưỡng thiếu phù hợp, có khi thiếu cả tính chân thực lịch sử. Thứ hai, những dẫn chứng liên hệ nhiều nhưng không tinh, không có tính điển hình phổ biến. Giáo viên ham kể, ham trưng những mẩu chuyện, những hình ảnh xa xôi lạ lẫm, xem thường bỏ qua những dẫn chứng gần gũi, thân quen giàu tính thực tế khiến tính thuyết phục bị mất đi nhiều. Thứ ba, các dẫn chứng liên hệ không được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, mang nặng tính minh họa chứ không phải tồn tại đúng theo nghĩa là một phương pháp giảng dạy. Đúng ra những dẫn chứng phải được sử dụng như một phương tiện trọng yếu để hướng học sinh tự mình đi đến nhận thức khái niệm một cách tự nhiên, sâu sắc thì ngược lại nhiều giáo viên chủ yếu lại dựa vào sách giáo khoa cho các em phát biểu nội dung khái niệm trong sách, sau đó mới giảng giải rồi cùng các em dẫn chứng liên hệ một cục. Thứ tư, các dẫn chứng liên hệ được các giáo viên thông báo một cách khô khan đơn điệu, ít được sinh động hóa bằng hình ảnh cụ thể giàu tính thực tiễn và giáo dục; bằng những mẩu chuyện hấp dẫn với cách kể đầy sức lôi cuốn kèm theo những lời phân tích giảng giải ngắn gọn xúc động, khiến chúng có xác mà không có hồn. Học sinh ngồi nghe rồi lại quên ngay. Không một chút hưng phấn, không một sự tò mò nào thức dậy được trong các em thì làm sao những tiềm thức đạo đức công dân trong các em có thể được lóe sáng, được định hình. Thứ năm, các dẫn chứng liên hệ thực tế chưa được chú ý khêu gợi, phát huy từ phía học sinh. Nhu cầu tự bộc lộ những chính kiến, suy nghĩ, băn khoăn, thắc mắc của các em hầu như mới được thực hiện một cách hạn chế. Các dẫn chứng liên hệ do vậy chưa phong phú đa dạng, chưa rộng, chưa sâu, chưa tạo được sự bất ngờ sinh động, sự rung cảm trong nhận thức về mối tương giao giữa lý thuyết và thực tế từ thẳm sâu tâm can học trò. Nói cách khác, trong trường hợp này vai trò chủ thể của việc liên hệ thức tế vẫn thuộc về các thầy cô chứ chưa phải các em. Thứ sáu, các dẫn chứng chưa được liên hệ trình bày với một tâm thế nồng cháy mà còn dừng ở mức thông báo lạnh lùng nên đã không tạo được chất men kích thích thuyết phục hưng phấn trong lòng học sinh. Những dẫn chứng đó có khi quá tả có khi lại quá hữu khiến học sinh phần nào bối rối, lũng đoạn niềm tin trước thực tế cuộc sống đầy phức tạp đang hiện hình trong thế giới nhận thức còn chơi vơi của các em.
        Ba là, dạy học GDCD phải chú trọng sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học   Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn GDCD cần phải gắn liền với đổi mới phương tiện dạy học. Trong quá trình dạy học môn GDCD, giáo viên cần lựa chọn và sử dụng hợp lí, có hiệu quả các thiết bị dạy học đã được cung cấp theo danh mục cũng như các thiết bị, đồ dùng dạy học do giáo viên, học sinh tự làm; đặc biệt giáo viên cần tích cực sử dụng công nghệ thông tin trong để có thể “nối dài” các giác quan của học sinh, cung cấp cho học sinh những hình ảnh, âm thanh sống động…Qua việc nghe, nhìn như vậy, học sinh có thể tự nhận xét, so sánh, suy nghĩ và rút ra những kiến thức cần thiết, từ đó nâng cao tính tích cực của học sinh trong học tập.
          Có thể khẳng định, dạy và học tích cực là một trong những mục tiêu chung và cũng là một tiêu chuẩn về giáo dục hiệu quả, hướng dẫn cho việc đổi mới việc dạy học ở nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng ở nhà trường phổ thông. Trên cơ sở như vậy, môn học GDCD mới thực sự góp phần đắc lực trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo ở bậc trung học phổ thông. Đó là khuyến khích phát triển năng lực lập luận logíc, năng lực trừu tượng hoá và chiếm lĩnh vững chắc những nội dung giáo dục cần thiết cho việc học sinh tiếp tục học lên ở các bậc học khác hoặc rèn luyện được thái độ tích cực đối với lao động sản xuất, giúp học sinh hướng nghiệp và chọn nghề; chuẩn bị năng lực xử lý những tình huống của đời sống thực tế cá nhân và xã hội; phát triển thái độ tích cực và năng lực sáng tạo, hướng trí tuệ và sự sẵn sàng của tuổi trẻ vào thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
          1. Nguyễn Văn Cường, Đổi mới phương pháp dạy học trung học phổ thông, Tài liệu dành cho dự án phát triển giáo dục THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 2006.
          2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII), Hà Nội, 1996.
          3. Nguyễn Kỳ, Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 1996.
          4. Luật Giáo dục (Sửa đổi, bổ sung năm 2009), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
          5. Lê Thị Thơm, Bùi Văn Hà, Suy ngẫm về những phương pháp giáo dục của Nho giáo, Tạp chí giáo dục, 10/2012.
          6. Trịnh Xuân Vũ, Phương pháp Socrate, tạp chí NCGD, 4/1996.
 

Tác giả bài viết: Tạ Thị Thuý Ngân

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Văn bản - Thông báo mới

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017