22:24 +07 Thứ năm, 17/08/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Khoa - Tổ chuyên môn » Khoa GD Tiểu học

DẠY HỌC NGỮ DỤNG HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM TIỂU HỌC

Thứ năm - 21/08/2014 20:19
 
       Ngữ dụng học là một bộ môn khá mới của Ngôn ngữ học, xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX, đến nay đã thâm nhập khá sâu sắc vào trong các lĩnh vực nghiên cứu của Việt ngữ học. Là một bộ môn có đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp bằng lời, Ngữ dụng học thực chất chính là một lí thuyết giao tiếp khá hoàn chỉnh với các mảng nghiên cứu chính là: Diễn ngôn, ngữ cảnh, chiếu vật- chỉ xuất, hành động ngôn ngữ, lập luận, hội thoại, nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn. Mục tiêu cuối cùng của Ngữ dụng học là muốn người ta sử dụng được ngôn ngữ một cách hiệu quả, đạt được mục đích giao tiếp: xuất phát từ mục đích giao tiếp, người nói căn cứ vào những đặc điểm của ngữ cảnh (đặc biệt là đặc điểm của đối ngôn, của hoàn cảnh giao tiếp) để xác định nội dung, cách thức giao tiếp, xây dựng nên chiến lược giao tiếp với những hành động ở lời cụ thể; diễn ngôn được tạo ra có thể có nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn với những biểu thức chiếu vật phù hợp, có lập luận chặt chẽ thuyết phục, phù hợp với các quy tắc hội thoại. Lí thuyết giao tiếp này thực sự đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nghiên cứu về ngôn ngữ ở thời điểm mà nó xuất hiện, và cho đến bây giờ vẫn tỏ ra quan trọng không chỉ trong nghiên cứu về ngôn ngữ mà còn trong việc dạy và học ngôn ngữ nói chung.
          Hiện nay, ở trong nước, việc dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp đã và đang được đẩy mạnh thực hiện ở các cấp, bậc học từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông, chương trình dạy học mà thể hiện ra là sách giáo khoa đã được đổi mới nhiều về nội dung cũng như cách sắp xếp các kiến thức trong chương trình học tập theo hướng giao tiếp. Người giáo viên dạy ngôn ngữ ở các cấp học này, do đó phải có những kiến thức nhất định về Ngữ dụng học. Do vậy, việc dạy cho sinh viên lí thuyết giao tiếp- Ngữ dụng học phải được chú trọng, đặc biệt là với sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học. Bài viết sau sẽ đưa ra một số định hướng cho việc dạy Ngữ dụng học cho sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học.
1. Dạy học Ngữ dụng học phải gắn bó mật thiết với Chương trình Tiếng Việt Tiểu học
Việc gắn chương trình Ngữ dụng học với chương trình Tiếng Việt Tiểu học là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả học tập cho sinh viên Sư phạm Tiểu học. Bởi nó sẽ giúp các em biết đâu là kiến thức trọng tâm cần thiết phục vụ cho công việc dạy học của mình trong tương lai, từ đó sẽ tạo ra định hướng trong học tập và rèn luyện các kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên.
Để thực hiện dạy học Ngữ dụng học theo định hướng trên trong điều kiện thời lượng dành cho nó chỉ có 30 tiết, chúng ta buộc phải cắt bớt một số nội dung kiến thức của Ngữ dụng học không liên quan, hoặc không có nhiều ứng dụng trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học. Đồng thời với đó là tăng cường thời gian thực hành để sinh viên làm quen và giải quyết các vấn đề tương ứng có trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học. Theo đó, khi dạy Ngữ dụng học cho sinh viên Sư phạm Tiểu học, giáo viên nên chú ý những vấn đề sau:
- Dạy bài “Khái quát về Ngữ dụng học” : giúp sinh viên nắm chắc định nghĩa Ngữ dụng học, đối tượng nghiên cứu và mục đích của Ngữ dụng học, khái niệm diễn ngôn và ngữ cảnh. Từ đó, sinh viên phải sử dụng được những kiến thức này để phân tích các nhân tố của hoạt động giao tiếp trong các văn bản Tập đọc ở chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
- Dạy bài “Chiếu vật, chỉ xuất” : giúp sinh viên hiểu được một cách ngắn gọn nhất khái niệm chiếu vật và các phương thức chiếu vật, vận dụng để dạy học sinh Tiểu học tạo ra được các biểu thức chiếu vật trong khi làm văn miêu tả, từ đó làm giàu thêm vốn ngôn ngữ và cách diễn đạt cho học sinh Tiểu học.
- Dạy bài “Hành động ngôn ngữ”: giúp sinh viên hiểu nói năng chính là hành động - một dạng hành động có ý thức và có chiến lược rõ ràng của con người. Hành động ngôn ngữ có hai dạng thể hiện là hành động nói chân thực và hành động nói không chân thực (hành động nói trực tiếp và hành động nói gián tiếp). Từ đây, sinh viên sẽ vận dụng vào dạy những bài “Dùng câu hỏi vào mục đích khác”, “Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị” trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
- Dạy bài “Lập luận”: giúp sinh viên hiểu khái niệm lập luận, các thành phần của lập luận, tác tử, kết tử lập luận, lẽ thường- cơ sở của lập luận. Giáo viên cần gắn những kiến thức về lập luận với việc dạy học sinh Tiểu học lập luận trong khi viết các đoạn văn miêu tả (các kiểu đoạn văn diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp) và cả khi nói năng sao cho chặt chẽ và thuyết phục.
- Dạy bài “Hội thoại”: giúp sinh viên hiểu các vận động hội thoại, các quy tắc hội thoại, cấu trúc của hội thoại và vận dụng những kiến thức này vào dạy học sinh Tiểu học luyện nói trong hội thoại trong phân môn Tập làm văn ở Tiểu học.
- Dạy bài “Nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn”: giúp sinh viên hiểu được nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của phát ngôn và cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn cố ý. Vận dụng những điều này để giúp học sinh Tiểu học tìm hiểu các lớp nghĩa trong những phát ngôn, văn bản ở Tiểu học.
2. Dạy học Ngữ dụng học phải liên hệ chặt chẽ với thực tiễn giao tiếp của sinh viên
          Dạy học Ngữ dụng học cũng cần liên hệ chặt chẽ với thực tiễn giao tiếp của sinh viên. Giáo viên luôn cần ý thức rằng dạy sinh viên Ngữ dụng học chính là dạy họ cách thức giao tiếp, vì vậy cách dạy hiệu quả nhất là luôn đi từ thực tiễn giao tiếp cụ thể của sinh viên để hướng họ chú ý vào bài, xác định những kiến thức quan trọng trong bài, rồi lại quay lại vận dụng chính những kiến thức này vào thực tiễn giao tiếp sinh động xung quanh họ. Điều này sẽ làm cho những kiến thức Ngữ dụng học không còn cao siêu mà trở nên gần gũi, quen thuộc với các em. Sinh viên cần biết rằng môn học này giúp mình hiểu hơn về giao tiếp và trang bị cho mình những kĩ năng giao tiếp- một kĩ năng vô cùng quan trọng trong xã hội hiện đại và nhất là đặc biệt quan trọng với một người giáo viên dạy tiếng. Động lực này sẽ kích thích được hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả học tập ở sinh viên.
          Sau đây là một vài ví dụ về dạy học Ngữ dụng học theo định hướng trên.
          Chẳng hạn, dạy bài “Khái quát về Ngữ dụng học”, giáo sẽ bắt đầu bằng việc cho sinh viên tự liên hệ với hoạt động giao tiếp của bản thân trong thực tế để tự tìm ra các nhân tố giao tiếp và vai trò của chúng trong cuộc giao tiếp. Với sự gợi ý của giáo viên, chắc chắn sinh viên sẽ chỉ ra được đó là những yếu tố: người giao tiếp, không gian, thời gian của cuộc giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp và ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp. Tiếp đó, giáo viên sẽ cho sinh viên phân tích các nhân tố giao tiếp trong những ngữ liệu khác nhau: bài ca dao hay các văn bản thơ trong sách Tiếng Việt Tiểu học. Cuối cùng, giáo viên nâng lên một mức cao hơn là cho sinh viên làm bài tập tình huống, thí dụ: khi phải nói lời xin lỗi vì lí do đến muộn nhưng với giáo viên và với bạn bè thì phải nói năng khác nhau như thế nào, hoặc giả sử khi đi chợ và khi đi chùa, khi ở nhà với khi ở trường, trong những môi trường khác nhau đó thì tác phong, ngôn ngữ của em sẽ thay đổi như thế nào cho phù hợp…
          Hoặc chẳng hạn như dạy bài “Chiếu vật, chỉ xuất”, sinh viên hẳn sẽ rất “choáng” với những thuật ngữ nghe rất “hàn lâm” như: nghĩa chiếu vật nội chỉ, nghĩa chiếu vật ngoại chỉ, nghĩa chiếu vật hồi chỉ, nghĩa chiếu vật khứ chỉ, chỉ xuất, chỉ xuất nhân xưng, chỉ xuất diễn ngôn,…Giáo viên cần giúp sinh viên “đỡ sợ” các thuật ngữ trên bằng cách “bình thường hóa” chúng thông qua sự giải thích, thí dụ, nghĩa chiếu vật nội chỉ tức là sự vật được nói đến ở trong diễn ngôn, đã được đưa vào trong diễn ngôn, nghĩa chiếu vật ngoại chỉ tức là sự vật được nói đến ở bên ngoài diễn ngôn chưa được đưa vào trong diễn ngôn…Giáo viên cũng cần đi từ thực tiễn giao tiếp của sinh viên với những câu hỏi như : Khi nói năng, để chỉ  một đối tượng nào đó trong thực tế, em thường dùng những từ ngữ nào, thường có những cách diễn đạt nào để gọi tên nó; từ đây, giáo viên sẽ giúp sinh viên tự chốt lại kiến thức của bài về những phương thức chiếu vật (chiếu vật bằng tên riêng, chiếu vật bằng miêu tả xác định, chiếu vật bằng chỉ xuất). Tiếp đó, giáo viên có thể cho sinh viên áp dụng những kiến thức này vào trong thực tiễn giao tiếp của các em. Chẳng hạn, đưa ra bài tập: khi miêu tả con mèo nhà em thì em sẽ dùng những biểu thức chiếu vật nào để gọi tên nó, khi em muốn nói đến thầy giáo của mình thì em sẽ dùng những biểu thức chiếu vật nào cho phù hợp…
             Cách dạy như trên sẽ khiến cho giờ học nhẹ nhàng, thoải mái, sinh viên tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và có trọng tâm, giáo viên chỉ đóng vai là người dẫn dắt nhưng vẫn bảo đảm được mục tiêu yêu cầu của bài dạy.
             Với việc bảo đảm hai định hướng giảng dạy nói trên, giáo viên có thể được xem là đã thực hiện giảng dạy theo quan điểm giao tiếp, theo hướng tiếp cận năng lực của người học, qua đó đáp ứng được xu thế và nhu cầu của xã hội. Quan trọng hơn, giáo viên đã tạo ra được những giờ học hiệu quả, gây được hứng thú học tập cho sinh viên, đặc biệt với một môn học lâu nay vẫn bị “đóng mác” là hàn lâm viện như Ngữ dụng học. 

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Thanh Huyền- Khoa GD Tiểu học

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Văn bản - Thông báo mới

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017