04:28 +07 Thứ tư, 22/11/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Khoa - Tổ chuyên môn » Khoa GD Tiểu học

Về nguồn gốc của tiếng Việt

Thứ hai - 31/03/2014 13:57
Vấn đề về nguồn gốc của các ngôn ngữ luôn luôn được các nhà ngôn ngữ học quan tâm và đưa ra làm nhiệm vụ nghiên cứu hàng đầu. Vấn đề nguồn gốc tiếng Việt đã được các nhà Việt ngữ học dày công nghiên cứu. Tuy nhiên những nghiên cứu mà các nhà Việt ngữ học đưa ra lại không giống nhau. Hãy xem xét một số quan niệm dưới đây về nguồn gốc của tiếng Việt:

1. Ý kiến cho rằng tiếng Việt là một nhánh bị thoái hoá của tiếng Hán:
Năm 1838 nhà ngôn ngữ học người Pháp Taberd khi soạn quyển từ điển "An nam-latinh" đã nêu vấn đề rằng tiếng Việt là một nhánh thoái hoá của tiếng Hán. Ông đưa ra những chứng cớ rằng trong tiếng Việt số lượng từ tiếng Hán là rất nhiều và những từ này có mặt ở tất cả các phạm trù nghĩa của tiếng Việt. Taberd là người đầu tiên nêu vấn đề nguồn gốc tiếng Việt trong lịch sử nghiên cứu Việt ngữ. Tuy nhiên, những gì mà Taberd nêu ra chỉ mang tính giả thuyết. Giả thuyết này rất khó có thể chứng minh hay rất khó thoả mãn kết luận khi sử dụng phương pháp so sánh lịch sử để chứng minh cội nguồn ngôn ngữ. Bởi hiện nay, trong tiếng Việt có tới 75% từ gốc Hán nhưng những từ đó về cơ bản là những từ thuộc về lớp từ văn hoá. Hơn nữa tất cả những từ này có thể đều là từ vay mượn vì chưa có từ Việt nào giống với từ Hán mà khi vào tiếng Việt lại không bị ít nhiều thay đổi theo kiểu của tiếng Việt.

2. Ý kiến xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Đảo.
Tác giả Bình Nguyên Lộc trong cuốn "Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam" (1972) và "Lột trần Việt ngữ" (1973) đã cho rằng tiếng Việt có cùng nguồn gốc với các ngôn ngữ họ Nam Đảo. Năm 1996, tác giả Hồ Lê nhắc lại ý kiến này và cũng cho rằng tiếng Việt có rất nhiều từ chung với từ Nam Đảo.
Thực ra cho tới nay giữa các ngôn ngữ MônKhmer và các ngôn ngữ Nam Đảo có một lượng từ thuộc vốn từ cơ bản chung nhau rất nhiều. Nhưng nói rằng chúng là cội nguồn thì không chúng minh được. Còn nói là vay mượn thì Môn Khmer vay của Nam Đảo hay Nam Đảo vay của Môn Khmer hiện vẫn chưa được chứng minh.
Tuy nhiên chúng ta thấy có một thực tế rằng mặc dù sự tương ứng giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Nam Đảo đôi khi thuộc vào lớp từ cơ bản nhưng sự tương ứng đó mang tính chất đơn nhất, không hệ thống cho nên khả năng vay mượn giữa chúng nhiều hơn khả năng về cội nguồn.
Như vậy, việc cho rằng tiếng Việt có nguồn gốc với các ngôn ngữ Nam Đảo cũng chỉ là ý kiến có tính giả thuyết.

3. Ý kiến đề nghị xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Thái.
Năm 1912, trong tác phẩm "Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng An nam những phụ âm đầu", tác giả Henri Maspero đã trình bày một cách cơ bản những luận điểm của mình một cách logic với quan niệm cho rằng tiếng Việt có cùng nguồn gốc với họ ngôn ngữ Thái.

Đầu tiên, Maspero tiến hành so sánh từ vựng giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Thái và các ngôn ngữ Môn Khmer. Sau khi tiến hành nghiên cứu, ông đưa ra nhận xét như sau:
- Trong tiếng Việt có rất nhiều từ tương ứng với các ngôn ngữ Môn Khmer. Tuy nhiên, có một điểm là trong số những tương ứng đó không có một nhóm từ cơ bản nào là tương ứng hoàn chỉnh với các ngôn ngữ Môn Khmer mà ở từng nhóm bao giờ cũng có những tương ứng với các ngôn ngữ Thái chêm vào. Như vậy, theo Maspero giữa tiếng Việt và Môn Khmer sự tương ứng thì có nhưng không có tính hệ thống.
Ví dụ: Nếu các từ trăng, mưa, gió, nước…là gốc Môn Khmer thì các từ móc, mùa là Thái. Nếu rú, sông là Môn Khmer thì đồng, rẫy, mò là Thái, mắt, chân là Môn Khmer thì lưng, bụng, ức, cằm, cổ là Thái…
Do tình trạng lẫn lộn về mặt từ vựng giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Môn Khmer và giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Thái, chúng ta chưa được phép nói điều gì về nguồn gốc giữa tiếng Việt với Môn Khmer hay tiếng Việt với ngôn ngữ Thái.

Bước 2, Maspero tiến hành nghiên cứu so sánh về mặt ngữ pháp.
- Hiện nay, các ngôn ngữ Môn Khmer đang sử dụng phương thức phụ tố để cấu tạo từ mới còn tiếng Việt thì không sử dụng. Điều này giống với tiếng Thái.
- Hơn nữa, trong tiếng Việt hiện nay, biểu hiện cụ thể là tiếng Mường, tổ hợp phụ âm bao giờ cũng là những phụ âm đứng trước âm lỏng hay âm lướt. Đây chính là đặc trưng của các ngôn ngữ Thái.
Như vậy, xét về mặt ngữ pháp, theo Maspero tiếng Việt gần với các ngôn ngữ Thái hơn.

Bước 3, Henri Maspero tiến hành nghiên cứu về mặt thanh điệu.
- Tiếng Việt hiện nay là một ngôn ngữ có thanh điệu trong khi đó các ngôn ngữ Môn Khmer không có thanh điệu.
- Cơ chế thanh điệu của tiếng Việt là hoàn toàn giống với cơ chế thanh điệu của tiếng Thái. Sự giống nhau đó thể hiện ở chỗ, giữa tiếng Việt và tiếng Thái có mối liên hệ giữa âm vực của thanh điệu với tính thanh của âm đầu âm tiết và có mối liên hệ giữa tuyến điệu của thanh điệu với cách kết thúc âm tiết.
Thanh điệu được coi là đặc trưng của một họ ngôn ngữ. Điều đó có nghĩa là trong quá trình biến đổi, sự có mặt về thanh điệu luôn luôn gắn liền với sự phát triển của một họ ngôn ngữ nào đó. Như vậy, về mặt thanh điệu, tiếng Việt phải được coi là một trong những ngôn ngữ thuộc họ Thái.
Từ những lập luận như trên, Maspero đưa ra kết luận như sau: "Tiếng tiền Annam đã sinh ra từ một sự hỗn hoà của một phương ngữ Môn Khmer, một phương ngữ Thái và có thể của cả một ngôn ngữ thứ 3 còn chưa biết, rồi sau đó, tiếng Annam đã vay mượn một số lượng lớn từ Hán. Nhưng cái ngôn ngữ có ảnh hưởng quyết định để tạo ra cho tiếng Annam trạng thái hiện đại của nó là chắc chắn,, theo ý kiến tôi, một ngôn ngữ Thái, và tôi nghĩ rằng tiếng Việt phải được qui vào họ Thái".

4. Ý kiến xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á.
Trong bài viết "Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á" và bài "Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt", Haudricourt xếp tiếng Việt vào họ các ngôn ngữ Nam Á. Ông đã đưa ra những lập luận để khẳng định cho ý kiến của mình như sau:
+ Thứ nhất, trên diện những sự giống nhau về ngữ pháp giữa các ngôn ngữ, thì tính chất giống nhau ấy không cho phép nói tiếng nào gần tiếng Việt hơn. Nhưng nếu xem xét những vết tích còn lại của các hiện tượng biến hình cổ, người ta tìm thấy quan hệ nhân quả, ví dụ trong cặp mourir- tuer (chết- giết)
Việt  (chính tả)                          chết- giết
        (phát âm)                          čet -
Phong                                       cet - pöcet
Khmou                                       han - phan
Khmer                                       slap - samlap
Mon                                          khyüt - pacüt
Thái                                          tay - qa
Tất nhiên, người ta có thể phản bác rằng cả hai từ việt đều đã được mượn, chẳng hạn của tiếng Phong. Cái quyết định là từ vựng cơ bản.
+ Thứ hai, Haudricourt cho rằng Maspero đã có những diễn đạt khá ấn tượng về nguồn gốc của từ vựng tiếng Việt. Tuy nhiên, trong bảng phân loại của Maspero, có hai từ ông xếp vào gốc Thái, đó là Cổcằm. Nhưng theo Haudricourt, từ những sự so sánh mà EFEO đưa ra trong bảng câu hỏi khảo sát các từ quen dùng, không có lí gì để không chấp nhận cho hai từ đó một nguồn gốc Môn Khmer. Và Haudricourt đã phân 12 từ Việt trong bảng của EFEO (đầu "trốc", tóc, mắt, tai, mũi, miệng, răng, lưỡi, cổ, môi, cằm, tay) thành ba loại:
- Những từ chung cho hầu hết các ngôn ngữ Nam Á: tóc, mắt mũi, tay.
- Những từ chỉ gặp trong tiếng Phong, còn trong ngôn ngữ khác thì khác nhau: trốc, tai, miệng, lưỡi, môi.
- Những từ không gặp trong tiếng Muong, cũng như trong tiếng Phong, nhưng lại gặp trong các ngôn ngữ Môn Khmer: cổ, cằm hoặc trong tiếng Palaung-wa (Khmou, Riang): răng.
Như vậy, về mặt từ vựng, tiếng Việt đã xử sự như bất kì một ngôn ngữ Nam Á nào.
Hãy xem xét Bảng câu hỏi khảo sát của EFEO:
- Tête: đầu là từ gốc Hán; tiếng Việt cổ là trốc; trong tiếng Mường và Phong là klok; Bahnar là kol, Mnong là Bok, Riang là kiń, Khmou là kampoń, Mon là k'üp…Thái chung là hruo.
- Cheveu: tóc; Mường là thak; Phong và Samre lá suk, tiếng Mon, Bahnar, Mnong là sok, Riang là huk, Khmer là sa'k…Thái chung là phrom.
- Oeil: mắt; trong tiếng Muong, Phong, Khmou, Bahnar, Mnong, Samre, Mon là mat; tiếng Khasi là khmat, tiếng Khmer là bnêk…tiếng Thái chung là ta/ tha.
- Oreille: tai, trong tiếng Muong là thai; tiếng Phong là sai, Kuy là ktor; Bahnar là 'don; Mnong là tor, Samre là prlan; Khmer là traciek,…Thái chung là hru/ khru.
- Nez: mũi, trong tiếng Muong là mui; tiếng Phong là muic; tiếng Kuy, Mon, Khmou, Bahnar là muk; tiếng Mnong là moh, Khmer là cramuh…trong tiếng Thái chung và Dioi là 'dan.
- Bouche: miệng; trong tiếng Muong, phong là mεn; Riang là mכň; Khmou: tnoh…Thai chung là păk.
- Dent: răng; Riang: ran; Khmou:hran; Phong, Kuy: knen…Thái chung là khεw.
- Langue: lưỡi; trong tiếng Muong là lāi, tiếng Phong là lāic; Khmou là hntāk, Riang: tāk; tiếng Kuy là loai… Thai chung là lin, Sui là ma
- Cou: cổ; trong tiếng Mường là kel, koh; tiếng Phong là kiko; tiếng Riang là kok, tiếng Mon, Mnong là k כ, tiếng Bahnar là ak כ, tiếng Thái chung là G כ; tiếng Dioi và Mak là ho
- Lèvre: môi; trong tiếng Phong là kbui; tiếng Kuy là tmor, tiếng Khmer là papur, babir; tiếng Riang là tor; trong tiếng Thái chung không có từ riêng cho "môi".
- Menton: cằm; trong tiếng Muong và Phong là kăn; tiếng Kuy là skan, tiếng Bahnar và Mnong là kān; tiếng Khmer là dgām; tiếng Riang và Khmou là kāp; trong tiếng Thái chung là gān, tiếng Dioi là han.
- Bras (main): tay; trong tiếng Muong là thai, tiếng Phong là si, tiếng Kuy, Bahnar, Mnong, Samre, Riang, Khmou là ti, tiếng Mon và Khmer là tai, tiếng Thái chung là
Haudricourt còn đưa ra những chứng cớ cho rằng những so sánh Việt - Thái của Maspero cần phải được xem xét lại, ví dụ: bi (mollet) không thấy có trong các từ điển tiếng Việt quen dùng và trong tiếng Thái chung cũng không có từ nà với nghĩa "mollet"; từ bụng có thể gặp trong các tiếng Kuy, Samre:puń, Khmou: buń…Một ví dụ khác nữa trong tiếng Thái chung quả có một từ để chỉ "riz"khăw; còn trong tiếng Việt thì không phải là có hai từ để chỉ "riz" mà có hai khái niệm khác nhau "riz" - cây, hạt"riz" - đã xay, có thể gặp trong tất cả các ngôn ngữ Nam Á.
Sự phù hợp của tiếng Khasi, tiếng Paluang-wa (Khmou, Riang) với các tiếng Samre và Khmer, về hình thức và nghĩa, cho ta thấy phải tìm trong Nam Á để thấy nguồn gốc của từ gạo. Các ngôn ngữ Nam Á ở phía Bắc cho ta thấy là các từ Maspero coi là Thái thì sự thật chúng là những từ mà các tiếng Siam và Lào đã mượn của cơ tầng Nam Á. Như vậy tỷ lệ những từ Việt gốc Nam Á tăng lên và người ta có thể tự hỏi những từ chung của tiếng Việt và tiếng Thái có phải là mượn của tiếng Thái không. Những ngôn ngữ có quan hệ họ hàng với Thái còn được biết rất ít để có thể quyết định vấn đề này.
+ Thứ ba, Haudricourt cho rằng luận cứ về thanh điệu của Maspero (luận cứ theo đó tiếng Việt do có 6 thanh mà bị tách khỏi các ngôn ngữ Nam Á- những ngôn ngữ không có thanh) là luận cứ không có giá trị. Và ông đưa ra những lập luận cho vấn đề này như sau:
- Ở giai đoạn tiền Việt- Mường, tức là thời kỳ vừa tách khỏi các ngôn ngữ Môn-Khmer khác, tiếng Việt là một ngôn ngữ không thanh điệu.
- Từ trạng thái không thanh, tiếng Việt chuyển sang một ngôn ngữ có 3 thanh. Theo ông cái làm nên đặc trưng này là sự hình thành nên tuyến điệu, do sự rụng đi các âm cuối xát *h/s (tạo ra cặp hỏi/ ngã) và *? (tạo ra cặp sắc/ nặng). Quá trình này được gọi là quá trình nhân ba.
- Hệ thống ba thanh được chuyển thành hệ thống 6 thanh. Lí do của sự chuyển đổi này là sự lẫn lộn về thanh tính của các âm đầu, một đặc trưng của tiếng Việt - Mường chung: phụ âm đầu hữu thanh bị vô thanh hoá. Để bảo toàn sự đối lập hữu ích vốn có, hệ thống ba thanh được chuyển thành hệ thống sáu thanh theo cách tạo ra âm vực cao/ thấp. Các âm đầu vô thanh xưa nhận âm vực cao, các âm đầu hữu thanh xưa ứng với âm vực thấp. Quá trình này được gọi là quá trình nhân đôi.
Nguồn gốc như thế của các thanh tiếng Việt không phải là một minh chứng để chống lại quan hệ họ hàng của tiếng Việt với tiếng Thái, bởi vì chắc chắn là ở đầu kỉ nguyên chúng ta, tiền thân của tiếng Thái, và tiếng Hán cổ xưa cũng như tiếng Miao- yao chung đều không có thanh. sự xuất hiện các thanh, sinh ra bởi các biến đổi của những phụ âm cuối và phụ âm đầu, chắc chắn là sản phẩm đã hình thành song song trong bốn ngôn ngữ, do chịu ảnh hưởng văn hoá của tiếng Hán, ảnh hưởng mà chúng ta có chứng cứ qua các từ mượn.
Như vậy, dòng họ của tiếng Việt cần phải được tìm bằng từ vựng cơ bản. Mà xét về mặt từ vựng thì Haudricourt khẳng định tiếng Việt xử sự như bất kì một ngôn ngữ Nam Á nào. Cách giải thích này của GS. Haudricourt đã đi đúng hướng tuy nhiên vẫn còn những điều chưa thật sự thoả mãn.
GS.M.Ferlus và sau này là GS. Trần Trí Dõi đã bổ sung quan niệm của GS. Haudricourt. Các tác giả này đã vận dụng phương pháp so sánh lịch sử để chứng minh mối quan hệ họ hàng của tiếng Việt. Các ông đã chứng minh một cách khoa học, hệ thống và thuyết phục sự biến đổi có quy luật của những ngôn ngữ đó từ một dạng thức chung (ngôn ngữ mẹ).
Như vậy với cùng một ngôn ngữ, các tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về nguồn gốc của nó. Sở dĩ có hiện tượng này là do có những tác giả đã nhìn nhận các hiện tượng của tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ để so sánh, chứng minh quan hệ họ hàng trong tình trạng đồng đại chứ không phải trong lịch đại. Hoặc nếu nhìn nhận các ngôn ngữ đó trong quá khứ thì không nhìn nhận theo cả một quả trình phát triển và chưa xác định được quy luật biến đổi ngữ âm của các ngôn ngữ đó. Có thể nói, các tác giả đó đã nhìn nhận vấn đề không dựa trên phương pháp so sánh lịch sử. Có thể các tác giả đó đã nhìn nhận mối quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ và tiếng Việt thông qua phương pháp Ngữ thời học, hay phương pháp phân định cội nguồn có tính chất dân gian. Những phương pháp này không phải của so sánh lịch sử và nó cũng không thể xác lập được quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ.
GS Haudricourt đã nhìn nhận tiếng Việt và các ngôn ngữ trong quá trình phát triển của nó và trong mối quan hệ lịch đại. Ông đã áp dụng phương pháp so sánh lịch sử trong việc xác lập quan hệ họ hàng giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Nam Á. Ông đã nhìn nhận những biến đổi trong các ngôn ngữ một cách có quy luật và đồng loạt. Và do đó ông đã đưa ra được những chứng cớ và những lập luận một cách chính xác và lôgic để chứng minh quan điểm của mình. Quan niệm này của GS Haudricourt đã được GS M.Ferlus bổ sung và sau đó GSTrần Trí Dõi kế thừa, bổ sung và phát triển một cách có quy luật, chặt chẽ và dễ hiểu hơn.
Như vậy, để chứng minh mối quan hệ họ hàng của các ngôn ngữ thì công việc dứt khoát phải làm là chứng minh sự biến đổi có quy luật của ngôn ngữ đó từ một dạng thức chung. Dạng thức chung đó chính là điểm mốc trong quá trình phát triển của một ngôn ngữ hay một nhóm, một nhánh, một họ ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ học so sánh lịch sử, dạng thức chung này được gọi là tiền ngôn ngữ hay ngôn ngữ mẹ.
Trên đây là một số trình bày về nguồn gốc của tiếng Việt. Qua đó ta thấy, muốn xác định chính xác nguồn gốc của ngôn ngữ cần phải có điều kiện cần và điều kiện đủ: điều kiện cần chính là việc so sánh từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ. Và điều kiện đủ để xếp loại và nghiên cứu nguồn gốc ngôn ngữ chính là việc xác định những quy luật biến đổi ngôn ngữ. Và từ đó có thể khẳng định, muốn xác định nguồn gốc của ngôn ngữ phải dựa trên phương pháp so sánh lịch sử.

Tác giả bài viết: Nguyễn Phượng

Nguồn tin: Khoa Giáo dục Tiểu học

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017