17:38 ICT Chủ nhật, 23/11/2014





Liên kết


 

 

 




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Các khoa - Tổ chuyên môn » Khoa Xã hội


ĐỀ THI MỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC - THƯỚC ĐO ĐÁNH GIÁ PHÙ HỢP VÀ TIN CẬY CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Thứ năm - 20/03/2014 19:13
Người viết: TS Đặng Thị Mây
Khoa Xã hội – Trường Cao đẳng Hải Dương
 
1. Một số vấn đề chung
1.1. Phương pháp tiếp cận năng lực trong dạy - học môn Ngữ văn ở trường phổ thông và hệ thống năng lực đặc thù, chuyên biệt của bộ môn
Thuật ngữ năng lực (competence) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia” là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tâm lí học xác định: năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm; là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Giáo dục học lại cho rằng: “Năng lực là những kiến thức, kĩ năng và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một con người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản” [1].
Phương pháp tiếp cận năng lực đặt người học ở vị trí trung tâm của quá trình đào tạo, nhưng người học phải chịu trách nhiệm về quá trình học tập của mình, và chính điều này làm thay đổi quan niệm về đánh giá. Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm mà chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Chương trình này không chỉ hướng vào kết quả học tập (kết quả đầu ra) và tính đa dạng mà còn nhấn mạnh vào phương pháp đánh giá và kết quả học tập trong sự nỗ lực điều chỉnh hoặc đạt được của năng lực. Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống.
Dạy học bộ môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi phải có một sự thay đổi đồng bộ, toàn diện các bước, các khâu của quy trình đào tạo: từ xác định mục tiêu đào tạo, hệ thống năng lực chung và đặc thù do đặc trưng bộ môn đến lựa chọn nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá.
Chương trình dạy học hiện đại được xây dựng theo hai trục chính: tích hợp và phân hóa nhằm hướng tới hình thành và phát triển một hệ thống năng lực chung cho học sinh: năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo, tự chủ, giải quyết vấn đề và làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực cá nhân… Bên cạnh những năng lực chung ấy, môn Ngữ văn còn hướng tới phát triển cho học sinh những năng lực cụ thể, chuyên biệt: như: năng lực đọc – hiểu văn bản văn học,  năng lực tiếp cận, phân tích, cảm nhận, đánh giá trong quá trình tiếp nhận và năng lực tạo lập văn bản theo những phương thức biểu đạt, những thao tác nghị luận phù hợp; trên cơ sở đó phát triển toàn diện, đồng thời cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh.
1.2. Đổi mới cách ra đề theo hướng phát triển năng lực – một trong những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông
Để hình thành và phát triển năng lực đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh, người giáo viên cần có “chiến lược” dạy đọc – hiểu (hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản theo mô hình thể loại, có kĩ năng xác định yếu tố biến đổi của thể loại để quá trình tiếp nhận, khám phá giá trị tác phẩm không khuôn theo những trình tự khô cứng, bất biến, nhàm chán). Chỉ khi làm chủ kĩ năng đọc, học sinh mới có năng lực đọc sáng tạo,  mới trở thành “bạn đọc sáng tạo” của nhà văn, và quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học lúc đó sẽ trở thành một hành trình “chạy tiếp sức” của các thế hệ bạn đọc và của chính học sinh ấy trên con đường khám phá giá trị của tác phẩm một cách đầy đủ, sâu sắc.
Để rèn luyện và phát triển cho học sinh năng lực thực hành tạo lập văn bản một cách hiệu quả, bền vững, giáo viên Ngữ văn cần phải đổi mới quan niệm về kiểm tra đánh giá, về yêu cầu nội dung cũng như cấu trúc của đề thi. Hình thức kiểm tra đa dạng, linh hoạt, có sự kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận (để vừa có thể đảm bảo đánh giá được mức độ thông thuộc, thông hiểu của học sinh trên một lượng kiến thức cơ bản, toàn diện vừa có thể đánh giá được khách quan, chính xác những kĩ năng và năng lực cần thiết cần hình thành cho học sinh); nội dung kiểm tra đảm bảo sự cân đối giữa nghị luận xã hội và nghị luận văn học, theo hướng ưu tiên nghị luận văn học, trong đó các tri thức văn học – tiếng Việt – Tập làm văn được sắp xếp hợp lí, lôgic phù hợp với đặc trưng bộ môn.  
Đề kiểm tra, đề thi theo hướng mở là đề văn không giới hạn bài làm trong một lối mòn tư duy và những khuôn mẫu chung về hình thức nhưng vẫn gợi mở giúp học sinh có định hướng về cách viết. Đề văn mở giảm thiểu tối đa tính hạn định, tạo khả năng cho học sinh tự do lựa chọn vấn đề và cách giải quyết vấn đề. Đề mở yêu cầu cao ở học sinh sự sáng tạo, linh hoạt, những suy nghĩ, cảm thụ độc lập, khó có thể lệ thuộc vào các tài liệu tham khảo. Đề mở không những kích thích khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh mà còn có thể phân loại được học sinh.
Hình thức trắc nghiệm khách quan nếu được sử dụng hợp lí vẫn có thể phát triển năng lực tư duy (qua các thao tác lựa chọn, loại trừ, so sánh ở hình thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn), hình thành năng lực sáng tạo (viết suy nghĩ, cảm nhận, đánh giá ở hình thức trắc nghiệm điền khuyết) đồng thời vẫn kiểm tra được khá toàn diện kiến thức cơ bản, mức độ thông thuộc, thông hiểu và vận dụng kiến thức, kĩ năng ở cấp độ thấp của học sinh. Ví dụ khi kiểm tra, đánh giá năng lực đọc – hiểu về văn bản Tiếng nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi, SGK Ngữ văn 9), giáo viên có thể xây dựng một số câu hỏi trắc nghiệm như sau:
Câu hỏi 1: Các câu sau trích trong bài Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi. Theo em, câu nào diễn đạt một cách cô đúc và hình ảnh nhất khả năng, sức mạnh kì diệu của văn nghệ:
A. “Nghệ thuật [...] làm cho con người vui buồn nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn.”
B. “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta tự phải bước lên đường ấy.”
C. “Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội.”
D. “Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được.”
Câu hỏi 2: Hai câu thơ sau được trích trong Truyện Kiều được Nguyễn Đình Thi lấy làm dẫn chứng trong bài nghị luận của ông:
Cỏ non xanh rợn chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Dựa vào ý kiến của Nguyễn Đình Thi, hãy chỉ ra đâu là hiện thực khách quan; đâu là tư tưởng, tình cảm của nghệ sĩ được phản ánh, thể hiện trong hai câu thơ rồi điền vào chỗ trống:
a) Hiện thực khách quan:..........................................................................................
................................................................................................................
b) Tư tưởng, tình cảm của tác giả:............................................................................
.............................................................................................................................. [2].
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ đi tập trung đề xuất cách ra đề kiểm tra, đề thi môn Ngữ văn theo hướng mở ở hình thức tự luận.
Khi ra đề kiểm tra, đề thi môn Ngữ văn (hình thức tự luận) theo định hướng phát triển năng lực, giáo viên có thể lựa chọn những dạng đề mở như sau:
Đề mở về nội dung nghị luận là dạng đề hoặc chỉ mang tính chất gợi dẫn, khái quát hoặc nêu ra nhiều vấn đề nghị luận để học sinh lựa chọn và bày tỏ quan điểm mà không đòi hỏi thao tác nghị luận cụ thể. Câu lệnh trong đề thường có các yêu cầu: so sánh, lựa chọn, trình bày suy nghĩ... Dạng đề này không chỉ giúp giáo viên đánh giá được hiểu biết xã hội, kiến thức văn học, năng lực đọc – hiểu văn bản mà còn đánh giá được tư duy sáng tạo, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng lập luận của học sinh.
Đề mở về hình thức, về yêu cầu thao tác nghị luận là dạng đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận hoặc chỉ nêu đề tài. Tùy thuộc vào nội dung vấn đề, đề tài được nêu ra trong đề bài mà người viết lựa chọn và quyết định sử dụng các thao tác nghị luận phù hợp. Trong kiểu đề thi này, những câu lệnh: hãy phân tích, bình giảng có tính chất đóng được thay bằng: cảm nhận, suy nghĩ... Dạng đề này góp phần hình thành và phát triển năng lực thích ứng, sáng tạo, năng lực tư duy cho học sinh trước một tác phẩm văn học, một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, một hiện tượng đời sống hoặc một vấn đề tư tưởng – đạo lí cho trước.
Đề mở về cách tiếp cận là dạng đề không bị giới hạn bởi những yêu cầu bắt buộc về thao tác nghị luận cũng như phạm vi nội dung của vấn đề nghị luận. Dạng đề này đòi hỏi người viết phải chủ động trong nhận thức nội dung đề cũng như nhận thức về thao tác nghị luận sẽ được sử dụng khi làm bài.
Với những đề kiểm tra, đề thi theo hướng mở, giáo viên không chỉ tạo điều kiện cho học sinh phát huy những năng lực chuyên biệt, đặc thù như cảm thụ, phân tích, lí giải và đánh giá các hiện tượng văn học; rèn luyện cho học sinh cách thức và quy trình tạo lập văn bản, những kĩ năng cơ bản, cần thiết để viết một bài văn mà còn phát triển được năng lực tư duy và năng lực sáng tạo cho người học, góp phần nâng cao chất lượng dạy – học Văn và hiện thực hóa mục tiêu giáo dục, đào tạo ở nhà trường phổ thông.
2. Đề nghị luận xã hội theo hướng mở và phương pháp đánh giá dựa trên hệ thống năng lực cần hình thành cho học sinh
Nghị luận về một vấn đề xã hội, một hiện tượng đời sống hay một tư tưởng đạo lí vốn là “mảnh đất quen thuộc” của giáo viên Ngữ văn khi đi tìm cái mới trong vấn đề bàn luận và thao tác lập luận. Đây cũng là mảnh đất tốt để ươm mầm sáng tạo cho học sinh, tạo điều kiện cho các em được bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân mình, từ đó các em không chỉ hiểu biết, tự tin mà còn biết thích ứng và dám khẳng định.
Những đề văn hay như dây dẫn để trang viết của các em trở nên đầy cảm xúc và chứa đựng “sức nổ” của tư duy và nhân tính. Từ bày tỏ quan điểm về lối sống qua đề văn: “Bước vào thế kỉ mới,… nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức đều sẽ cản trở sự phát triển của đất nước” (Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới). Suy nghĩ của em về vấn đề trên” đến lựa chọn, bình luận và tự bộc lộ: “Viết  một bài văn nghị luận (khoảng 300 từ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến sau: “Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận được, con tim giàu lên nhờ cái nó cho đi”  - Victor Huygo
hay: “Lựa chọn một bài học mà anh (chị) thích nhất trong các bài học sau và phát biểu suy nghĩ của mình.
BÀI HỌC NGỮ PHÁP CHO BẠN TRẺ
Hãy sống ở thể chủ động, tránh xa thể bị động. Nghĩ nhiều đến những gì mà bạn có khả năng làm được hơn là những gì có thể xảy đến cho bạn.
Hãy sống theo cách khách quan; hãy quan tâm đến cuộc sống đúng với những gì đang thật sự diễn ra, hơn là mong muốn mọi thứ sẽ xảy ra như bạn mơ ước.
Hãy sống ở thì hiện tại, can đảm trực diện đối đầu với công việc ngày hôm nay; không luyến tiếc quá khứ, cũng đừng lo lắng quá mức đến tương lai.
Hãy sống ở ngôi thứ nhất, nghiêm khắc tự kiểm điểm mình hơn là đi bới móc những sai sót, lỗi lầm của người khác.
Và nếu như phải chọn một động từ thì hãy chọn lấy động từ yêu thương.”
Với những đề nghị luận xã hội này, học sinh được tự do lựa chọn các kiểu bài và các thao tác tạo lập văn bản khác nhau; biết nhận xét, bình luận và nêu được suy nghĩ của cá nhân; biết huy động tri thức sách vở, tri thức đời sống và những trải nghiệm của riêng mình về vấn đề cần bàn luận để giải quyết một vấn đề thiết thực của đời sống xã hội. Vì thế, hướng dẫn chấm một mặt vẫn phải đảm bảo những yêu cầu cụ thể về kĩ năng và nội dung kiến thức, đánh giá bài làm trên cơ sở kết cấu chặt chẽ, bố cục cân đối, rõ ràng, các luận điểm hợp lí, lập luận sắc sảo, dẫn chứng chọn lọc nhưng mặt khác cần có độ mở hợp lí. Vì học sinh có thể tiếp cận vấn đề, tổ chức bài làm, lựa chọn thao tác nghị luận, diễn đạt khác nhau song đều đạt được các yêu cầu cơ bản: xác định đúng hướng vấn đề cần luận bàn, thể hiện được kĩ năng làm bài nghị luận với thao tác cơ bản: lí giải – chứng minh – bình luận; tự tin bày tỏ chính kiến và kiến giải hợp lí. Trước những quan điểm trái chiều, những ý kiến phản bác vấn đề mà đề bài đưa ra, giáo viên cần linh hoạt trong đánh giá về thao tác lập luận và năng lực mà học sinh đạt được.
Chúng tôi xin đề xuất hướng dẫn chấm chung cho giáo viên với đề văn nghị luận xã hội theo hướng mở nhằm đánh giá cụ thể, chính xác hệ thống năng lực cần hình thành cho học sinh trong và sau quá trình học tập. Tùy theo từng dạng đề, nội dung và thao tác nghị luận, giáo viên có thể cụ thể hóa thành một đáp án, biểu điểm chi tiết phù hợp với tính chất của đề, mục đích kiểm tra, đánh giá và đối tượng học sinh.
 
Đề nghị luận xã hội theo hướng mở Nhóm năng lực chung Nhóm năng lực đặc thù
Tư duy Ngôn ngữ Sáng tạo Lựa chọn vấn đề Tìm hiểu vấn đề Lập luận Đánh giá Tạo lập văn bản
Đề mở về nội dung
nghị luận
               
Đề mở về yêu cầu
thao tác nghị luận
               
Đề mở về
cách tiếp cận
               
 
 
 
3. Đề nghị luận văn học theo hướng mở và phương pháp đánh giá dựa trên hệ thống năng lực cần hình thành cho học sinh
Đề nghị luận văn học theo hướng mở thường bị giới hạn bởi một phạm vi bàn luận cụ thể: một vấn đề văn học, một chi tiết, một nhân vật, một hình tượng nghệ thuật, một đoạn trích, một tác phẩm... nên thường chỉ “mở” ở sự tự do lựa chọn thao tác nghị luận và cách tiếp cận vấn đề. Đề văn thường xuất phát từ một vấn đề hoặc một tác phẩm văn học để gợi mở cho học sinh một vấn đề nào đó về cuộc sống cũng như văn chương và các em dùng kiến thức văn học của mình để luận giải đã thực sự mở ra một không gian rộng lớn cho những suy nghĩ, tưởng tượng sáng tạo, kích thích được khả năng tư duy, năng lực cảm nhận và hứng thú làm bài của các em.
Có những đề văn định hướng về nội dung mà rộng mở về cách làm bài như: Cảm nhận của em về tình yêu quê hương, nguồn cội của Y Phương trong bài thơ: “Nói với con”; Những nghịch lí và triết lí trong truyện ngắn “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu”.
Có những đề văn hấp dẫn và mới lạ ngay từ cách tiếp cận vấn đề: “Chất thơ trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa  của Nguyễn Thành Long.” hay: Sang thu Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng, bâng khuâng mà cũng thầm thì triết lí”.
Có những đề văn chất chứa thông tin và “mời gọi” sự đối thoại: “Ý nghĩa của cuộc đối thoại giữa “hồn” và “xác” trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”  của Lưu Quang Vũ  và: Giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Thuốc và nêu cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du.
Mỗi một văn bản trong Sách giáo khoa Ngữ văn ở trường phổ thông đều là một “thông điệp thẩm mĩ” mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Người ra đề là cầu nối để tạo nên nhu cầu giao tiếp, đối thoại giữa nhà văn – tác phẩm và bạn đọc học sinh. Làm sao để sau khi đọc một câu chuyện, nghe một bài thơ, viết một bài văn, học sinh thấy thêm yêu cuộc sống, yêu con người, thấy trí óc mình được khai sáng, tâm hồn mình được thanh lọc, học sinh có nhu cầu được bày tỏ những suy nghĩ, cảm nhận của mình về cái hay, cái đẹp của văn bản đó – đó là thành công của người giáo viên Ngữ văn trong dạy học và trong “nghệ thuật ra đề”.
Văn chương vốn hàm súc, đa nghĩa. Quá trình tiếp nhận văn học lại đa chiều. Vì thế, đáp án chấm phải dựa trên một “hằng số” là giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học: sự sâu sắc về nội dung tư tưởng, sự hấp dẫn trong hình thức nghệ thuật và khả năng tác động mạnh mẽ của bản thân tác phẩm đối với cuộc sống và con người. Độ mở trong đáp án chấm sẽ tạo điều kiện để giáo viên ghi nhận những sáng tạo của học sinh. Và để sự sáng tạo của học sinh khi làm văn không trở thành “một trò chơi vô tăm tích” của ngôn từ và ý tưởng, giáo viên cần dựa vào “chuẩn” đánh giá theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Ví dụ như:
 
Đề nghị luận văn học theo hướng mở Nhóm năng lực chung Nhóm năng lực đặc thù
Tư duy Ngôn ngữ Sáng tạo Đọc – hiểu VB Tiếp cận văn bản Phân tích, cảm nhận Bình giá Tạo lập văn bản
Đề mở về nội dung
nghị luận
               
Đề mở về yêu cầu
thao tác nghị luận
               
Đề mở về
cách tiếp cận
               
 
Kết luận: Đề thi mở theo hướng phát triển năng lực góp phần phá vỡ lối mòn trong tiếp cận và đọc hiểu văn bản, phá vỡ những khuôn mẫu truyền thống trong phương pháp dạy - học văn (khuôn quá trình tiếp nhận, khám phá văn bản trong trình tự các bước mà không quan tâm nhiều đến đặc điểm riêng về thể loại và phương thức biểu đạt). Đề thi mở và đáp án được xây dựng dựa trên hệ thống năng lực chung và năng lực đặc thù của môn học chính là đích đến của quá trình dạy học, là thước đo đánh giá phù hợp và tin cậy về chất lượng học tập môn Ngữ văn theo Chương trình, sách giáo khoa mới sau 2015 ở nhà trường phổ thông.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Đỗ Ngọc Thống (2012), Tài liệu chuyên Văn, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr 12-13.
2. Hoàng Thị Mai (CB) (2009), Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr 196.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.

Tác giả bài viết: TS. ĐẶNG THỊ MÂY

Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: năng lực

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Văn bản - Thông báo mới

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường