09:10 +07 Thứ bảy, 23/09/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Khoa - Tổ chuyên môn » Khoa Xã hội

ĐÔI ĐIỀU NHẬN XÉT VỀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM

Thứ bảy - 08/03/2014 07:07
ĐÔI ĐIỀU NHẬN XÉT VỀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ THỜI KÌ ĐỔI MỚI VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
 
Từ năm 1986, văn học Việt Nam bước vào thời kì đổi mới. Nằm trong sự vận động chung của cả nền văn học, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh đã có nhiều thay đổi so với tiểu thuyết cùng đề tài trước năm 1975. Thế giới nhân vật, nhất là hình tượng người phụ nữ là một yếu tố quan trọng làm nên bước đột phá của tiểu thuyết về đề tài này. Từ thời kì đổi mới, số lượng tiểu thuyết về đề tài chiến tranh khá phong phú, bài viết này chủ yếu khảo sát về nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ trong một số tác phẩm có người phụ nữ là nhân vật chính, như Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),  Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thời của những tiên tri giả (Nguyễn Viện), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Cõi đời hư thực (Bùi Thanh Minh), Sóng chìm (Đình Kính). Nhìn chung, các tác phẩm này không thuần nhất về đề tài, đề tài chiến tranh thường lồng trong đề tài người phụ nữ hoặc đề tài cuộc sống của người Việt Nam thời hậu chiến. Từ việc lấy đối tượng khảo sát là người phụ nữ, chúng tôi thấy ở đây đề tài chiến tranh chỉ nằm ở bình diện thứ hai của tác phẩm (trừ Nỗi buồn chiến tranhĂn mày dĩ vãng)..
Sự đổi mới của văn học, trong đó có sự đổi mới nghệ thuật xây dựng nhân vật nói chung và sự đổi mới trong việc xây dựng hình tượng người phụ nữ nói riêng xuất phát việc đổi mới quan niệm về hiện thực và quan niệm nghệ thuật về con người. Từ giữa thập kỉ tám mươi của thế kỉ XX, sau hơn một thập kỉ sống trong hòa bình, với tinh thần nói thẳng, nói thật, nhà văn đã được phép khai phá những vùng hiện thực còn khuất tối của chiến tranh và những bất cập của cuộc sống hòa bình. Từ khoảng 1985, văn học chiến tranh dần dần nghiêng về kiểu con người cá nhân, con người bi kịch. Không chỉ bó hẹp trong cái nhìn từ góc độ giai cấp, dân tộc, con người đã được nhìn từ góc độ nhân bản và nhân loại. Bên cạnh con người đạo lí, con người tự nhiên cũng được chú ý khai thác. Bên cạnh con người ý thức còn có con người tâm linh, con người vô thức...
Phạm vi khảo sát của chúng tôi chủ yếu là một nhân vật nữ chính ở từng tác phẩm. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật chính là “nhân vật then chốt của cốt truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm... Nhân vật chính thường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm và được nhà văn khắc họa đầy đặn bằng nhiều loại chi tiết: chi tiết tiểu sử, chi tiết ngoại hình, chi tiết nội tâm, tính cách và xung đột. Chính vì thế, nhân vật chính thường thể hiện rõ nét những cách tân nghệ thuật của một nhà văn.” [7, 226].
Nhân vật phụ nữ trong các tác phẩm trên là những người đã trực tiếp tham dự cuộc chiến chống Mĩ: người thanh niên xung phong, người du kích, người nữ y tá, người chiến sĩ hoạt động bí mật trong lòng địch; hoặc không trực tiếp tham gia chiến tranh: người vợ có chồng con tập kết ra Bắc, người phụ nữ hậu phương, người sinh ra trong chiến tranh và lớn lên trong hòa bình. Các nhà văn thường ít khi xây dựng kiểu nhân vật này với tư cách con người công dân mà chủ yếu xây dựng nhân vật trong tư cách con người cá nhân (người vợ, người mẹ, người tình). Vì vậy, họ quan tâm nhiều hơn đến những điều quan trọng nhất với người phụ nữ Việt Nam ở mọi thời đại: vấn đề tình yêu và hạnh phúc gia đình.
 Các tác phẩm trên thường có ít nhân vật. Những tác phẩm chỉ có một nhân vật chính là phụ nữ: Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Thời của những tiên tri giả (Nguyễn Viện), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Sóng chìm (Đình Kính). Những tác phẩm có người phụ nữ là một trong các nhân vật chính: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Cõi đời hư thực (Bùi Thanh Minh). Vì ít nhân vật nên các tác giả thường lựa chọn cốt truyện đơn giản, chủ yếu là kiểu cốt truyện tâm lí (trừ Sóng chìm). Kiểu xung đột nghệ thuật ở các tiểu thuyết trên chủ yếu là những giằng xé trong tâm hồn nhân vật. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra đôi điều nhận xét về việc sử dụng điểm nhìn nghệ thuật và khảo sát sơ lược về kiểu nhân vật ghép mảnh, một kiểu nhân vật khá mới của văn học Việt Nam hiện đại.
Các tác phẩm trên đều dùng những điểm nhìn khác nhau để khắc hoạ nhân vật chính. Các nhân vật Mạ (Cõi đời hư thực), Mĩ Tiệp (Gia đình bé mọn), Tư Nhâm (Sóng chìm), được xây dựng bằng điểm nhìn thời gian, dùng cả điểm nhìn bên ngoài lẫn bên trong. Ở đây, các tác giả thường miêu tả nhân vật bằng điểm nhìn bên ngoài của chính người kể chuyện ngôi thứ ba. Nhờ các loại điểm nhìn này, tác giả vừa miêu tả được vẻ đẹp của nhân vật trong và sau chiến tranh vừa thể hiện thành công  những bi kịch tinh thần mà nhân vật phải gánh chịu. Riêng nhân vật Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng) được xây dựng bằng điểm nhìn bên ngoài của nhõn vật Hai Hùng, người kể chuyện ngôi thứ nhất. Trong ký ức Hai Hùng: "Sương của tôi ngày xưa mảnh khảnh gầy gò, chỉ có đôi mắt là to song cái nhìn bao giờ cũng e lệ, rụt rè. Sương ít nói lắm, nếu phải nói thì cũng là những tiếng nói nhỏ nhẹ như nói thầm và điệu bộ nữa, lúc nào cũng ẩn vào, co vào thật sâu trong mình" [4, 21]. Hơn hai mươi năm sau, Tư Lan đã hoàn toàn khác với Ba Sương thuở trước: "đây là một người đàn bà trên bốn mươi tuổi, đậm người nhưng gọn, mái tóc dày dặn chải lật ra sau để lộ vầng trán đẹp và sáng... Trên cái cổ tròn và trắng như cổ một cô nữ sinh là một khuôn mặt sang trọng và thanh nhẹ, một đôi mắt thông minh, nhân hậu đấy mà cũng sắc sảo uy nghi đấy, đặc biệt là cái miệng đang nói rất có duyên, hàm răng đều và trắng... chỉ phải khoé môi thỉnh thoảng nhíu lại thành một nếp hằn ngược lên má trông khắc khổ và hơi ang ác một tí" [4, 22]. Dùng hai bức chân dung tương phản để miêu tả một con người là cách để nhà văn nói về sự tha hoá của các nhân vật. Trong khi miêu tả ngoại hình, Chu Lai đặc biệt chú ý đến đôi mắt, vì đó là nơi biểu hiện rõ nhất những chấn thương tinh thần của nhân vật. Đôi mắt rất buồn của Ba Sương được nhắc đi nhắc lại không dưới mười lần trong tác phẩm. Cùng với điểm nhìn bên ngoài, Chu Lai còn sử dụng linh hoạt điểm nhìn bên trong. Để cho Ba Sương tâm sự với Tường ở cuối tác phẩm, tác giả đã làm rõ hơn những chấn thương tinh thần mà cô phải gánh chịu. Do đó, Ba Sương trở nên đáng thương hơn là đáng giận. Nhờ xuất hiện qua các điểm nhìn khác nhau, nhân vật Ba Sương tuy vẫn mang những nét của nhân vật truyền thống nhưng lại sinh động hơn nhiều.
Các nhân vật Thu (Nước mắt đỏ), Quy (Chim én bay), Phương (Nỗi buồn chiến tranh), tôi (Thời của những tiên tri giả) cũng được thể hiện qua hai quãng thời gian trong và sau chiến tranh và chủ yếu được xây dựng bằng điểm nhìn bên trong. Nhờ sử dụng điểm nhìn bên trong nên mặc dù dùng ngôi kể thứ ba, Trần Huy Quang và Nguyễn Trí Huân vẫn miêu tả thành công những giằng xé, những đau đớn trong tâm hồn nhân vật. Ngòi bút của Trần Huy Quang đặc biệt thành công ở những đoạn miêu tả sự khao khát ái ân của Thu và sự chống chọi quyết liệt của nhân vật để không bị gục ngã trước người đàn ông coi cô như một hạng đàn bà chỉ dùng để giải trí qua đêm. Sự già dặn của nhà văn thể hiện ở chỗ: không sa vào chủ nghĩa tự nhiên dù viết rất cụ thể về khát khao tình dục của một người phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi mà mới chỉ có được “nửa đêm ân ái” duy nhất trong đời. Còn Nguyễn Trí Huân lại thành công trong việc miêu tả nỗi đau tinh thần và trạng thái cô đơn của nhân vật Quy. Nguyễn Viện chủ yếu dùng ngôi kể thứ nhất để thể hiện những suy ngẫm đậm tính triết luận của nhân vật trước bi kịch của bản thân, của gia đình, của đồng loại trong cơn khói lửa binh đao và trong những năm đầu hòa bình. Chính vì vậy, qua suy ngẫm của người kể chuyện, người đọc gặp biết bao số phận bi kịch và không thể không đưa ra những câu hỏi về thế sự và nhân sinh.
Nhân vật Phương (Nỗi buồn chiến tranh) được miêu tả chủ yếu bằng điểm nhìn bên trong, song điểm nhìn bên trong ấy lại di chuyển qua một số nhân vật khác. Tất cả những người mà Phương tiếp xúc, dù chỉ thoáng qua, đều rất quý nàng. Ông Huynh ở cùng khu chung cư thấy "con bé thật đáng yêu" [8, 187]. Chỉ biết đôi chút về Phương nhưng Kỳ vẫn khẳng định: "cô gái của ông, ông Kiên ạ, chẳng những đẹp người đẹp nết mà lại rất dễ thương và rất yêu ông " [8, 286]. Khi Phương mười sáu tuổi, cha Kiên thấy: "Cháu rất đẹp!...Sắc đẹp của cháu không bình thường... vẻ đẹp lạc thời và lạc loài... sẽ đau khổ đấy. Khổ lắm" [8, 149]. Mẹ Phương cho rằng con gái mình "là một dạng thánh nhân, một tiên nữ" nhưng bà cũng biết "sự hoàn mỹ này là mong manh vô cùng" [8, 248]. Người cảm nhận được đầy đủ nhất giá trị của Phương là Kiên. Qua hồi ức của Kiên, ta thấy Phương là người phụ nữ đẹp - "đẹp một cách đau lòng, đẹp như thể một sắc đẹp bị chấn thương, như thể một sắc đẹp lâm nguy, mấp mé bên bờ vực" [8, 288]. Nàng có tâm hồn nhạy cảm,  có cá tính và rất có ý thức về tự do. Mang nặng mặc cảm không sao xứng đáng với Phương, bị chiến tranh cuốn đi như hạt bụi trong gió lốc, Kiên nhớ về Phương bằng tất cả khát khao bản thể. Phương trong anh là Phương của thương xót và tiếc nuối, nàng "vĩnh viễn trẻ trung, vĩnh viễn ở ngoài thời gian, vĩnh viễn bên ngoài mọi thời buổi. Vĩnh viễn nàng tuyệt đẹp, đẹp không chung một nét với bất kỳ kiểu người đẹp nào mà đời từng được biết. Nàng như là thảo nguyên vừa qua mùa mưa lướt vào mùa gió cuốn, cuồn cuộn sóng cỏ xô bờ, rợp trời hoa cúc tơ hồng bay. Nàng xinh đẹp, mê dại và bất kham, hấp dẫn đến lịm người bởi sắc đẹp kỳ ảo và khôn lường" [8, 288]. Có thể nói, với nhân vật Phương, khó có cách viết nào hay hơn cách mà Bảo Ninh đã sử dụng.
Nhân vật Phương cũng đặc sắc ở chỗ đây là kiểu nhân vật ghép mảnh được Bảo Ninh xây dựng rất thành công. Chân dung Phương hiện lên bằng "nhiều mảnh khó lắp ghép tạo dựng lại" [1, 59], những mảnh ghép ấy nhiều khi rất khác biệt, thậm chí đối chọi nhau.
Với Kiên, Phương vĩnh viễn tuổi mười bảy, vĩnh viễn là một sắc đẹp "rực cháy sân trường Bưởi". Đó là một vẻ đẹp luôn biến ảo, khi thì "trẻ trung xinh đẹp, không có nét sầu thương" [8, 15], khi thì "tuyệt mỹ đến đau nhói lòng" [8, 135]. Phương không hiển hiện ngay một lúc mà hiện dần qua những mảnh ghép chân dung như "khuôn mắt trắng mịn","đôi chân đẹp như tạc, dài và chắc mềm mại với làn da như sữa đặc", "dáng đi thong dong uyển chuyển, đung đưa toàn thân" [8, 282], hay qua tiếng cười trong trẻo chiều Hồ Tây năm nào... Khó có thể dùng một vài câu để khái quát về tâm hồn hay tính cách của nhân vật này. Kiên cũng đồng tình với mẹ của Phương rằng nàng là "một dạng thánh nhân, một tiên nữ" nhưng ca sĩ Hưng thì lại thấy nàng là ngưòi  "truỵ lạc nhất đời" [8, 185]. Trong Kiên, Phương luôn là "một người bạn gái tươi đẹp, bừng sáng vẻ thanh tân tự tâm hồn, luôn luôn tha thiết, luôn luôn đằm thắm", nhưng ngay sau chuyến tàu chiến tranh định mệnh, Kiên vội nhìn nàng thành "một người đàn bà từng trải... lạnh nhạt vô tình, dửng dưng với tất thảy" [8, 283]. Sinh ra trong một gia đình nghệ thuật, có tâm hồn nhạy cảm tuyệt vời, Phương hiểu đâu là nghệ thuật đích thực nhưng nàng lại say sưa tham gia công diễn những vở ca kịch mà Kiên thấy "phô bày đến tột độ cái bất tài, cái thô thiển nhảm nhí, cái kiêu hãnh trắng trợn, cái thảm hại vô vị của nền nghệ thuật đặc trưng cho đời sống tinh thần thời hậu chiến" [8, 250]. Có khi Phương rất yếu mềm, mới nghe tin "Chiến tranh rồi! Chiến tranh với Mỹ" nàng đã "thì thào run rẩy, mặt tái đi" [8, 211]; nhưng có khi lại vô cùng thản nhiên trước sự huỷ diệt bạo tàn của chiến tranh. Đây là cảnh nàng tắm bên hồ sau biến cố phũ phàng ở nhà ga Thanh Hoá: "Phương ngước nhìn máy bay, nhìn trận mưa bom những cột lửa và những cồn khói sánh đặc, bốc dựng lên, song hầu như chẳng mảy may hoảng sợ. Chỉ nhìn. Rồi không nhìn nữa, không để ý nữa, đàng hoàng bình thản tiếp tục tắm táp" [8, 281].
Trước khi Nỗi buồn chiến tranh ra đời, Phương là một kiểu nhân vật chưa từng xuất hiện trong văn học Việt Nam. Dù rất xa lạ với truyền thống nhưng Phương vẫn trở thành một nhân vật mến thương và cũng vô cùng ám ảnh với người đọc. Điều đó đã minh chứng cho tài xây dựng nhân vật của tác giả Nỗi buồn chiến tranh.
Sự thành công về nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết từ thời kì đổi mới về đề tài chiến tranh đã góp phần không nhỏ làm nên sự thay đổi diện mạo của văn học Việt Nam. Thông qua các nhân vật này, dù không phải trải qua những năm tháng lửa đạn khốc liệt, người đọc có thể hình dung được phần nào về cái giá mà nhân dân ta phải trả cho cuộc sống hòa bình hôm nay. Từ suy ngẫm đầy tính nhân văn của Trần Huy Quang: “Chiến tranh – người ta đo tính ác liệt của nó bằng bao nhiêu bom đạn đổ xuống, bao nhiêu tỉ đô la bỏ ra, bao nhiêu lít máu đổ xuống, bao nhiêu thời gian. Hết tiếng súng - người ta gọi cuộc chiến tranh đã kết thúc. Nhưng đừng, hãy nhìn lại. Khi không còn tiếng súng nữa, đâu phải đã hết sự ác liệt của chiến tranh. Không ai tính số lượng, khối lượng nhan sắc, tinh hoa của các cô gái, của con người bị mài mòn trong chiến tranh ư?” [9, 149], chúng ta càng thêm trân trọng những người phụ nữ đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho nền độc lập tự do của dân tộc.
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đặng Anh Đào. Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
[2]. Nguyễn Trí Huân. Chim én bay. Nxb Văn học, H.2007.
[3]. Đình Kính. Sóng chìm. Nxb Hội Nhà văn, H.2007.
[4]. Chu Lai. Ăn mày dĩ vãng. Nxb Hội Nhà văn, H.2004
[5]. Bùi Thanh Minh. Cõi đời hư thực. Nxb Quân đội nhân dân, H.2007
[6]. Dạ Ngân. Gia đình bé mọn. Nxb Phụ nữ, H.2008
[7]. Nhiều tác giả. Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb Giáo dục, H.2004
[8]. Bảo Ninh. Thân phận của tình yêu. Nxb Hội Nhà văn, H.2005.
[9]. Trần Huy Quang. Nước mắt đỏ. Nxb Lao động, H.1994.
[10]. Nguyễn Viện. Thời của những tiên tri giả. Nxb Công an nhân dân, H. 2003
 

Tác giả bài viết: TS NGUYỄN THỊ THANH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017