07:11 +07 Thứ tư, 20/09/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Khoa - Tổ chuyên môn » Khoa Xã hội

LÀNG NGHỀ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA LÀNG NGHỀ TỈNH HẢI DƯƠNG

Chủ nhật - 01/06/2014 15:36
Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và làng nghề là thành phần quan trọng và cơ bản của công nghiệp nông thôn. Vì vậy, việc phát triển các làng nghề với nhiều ngành nghề TTCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, tác động tích cực tới việc xoá đói giảm nghèo của tỉnh. Bên cạnh hoạt động sản xuất nông nghiệp, TTCN giúp nông dân giải quyết thời gian nông nhàn và tăng thu nhập. Đối với những hộ gia đình có điều kiện về lao động có tay nghề khá, TTCN dần trở thành hoạt động sản xuất chính, có mức thu nhập cao hơn so với lao động thuần nông. Đây chính là điều kiện, là động lực việc mở rộng phạm vi các làng nghề ở vùng nông thôn.
Hải Dương nằm trong vùng châu thổ đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là nơi có nhiều ngành nghề TTCN và làng nghề truyền thống phát triển rất sớm và nổi tiếng cả nước như: gỗ mỹ nghệ Đông Giao, rượu Phú Lộc (Cẩm Giàng); vàng, bạc Châu Khê, gốm sứ Cậy (Bình Giang); mộc Cúc Bồ, bánh gai (Ninh Giang); thêu ren Xuân Nẻo (Tứ Kỳ); gốm sứ Chu Đậu (Nam Sách),… Các làng nghề đó đã tạo ra nhiều việc làm ở nông thôn, thu hút lực lượng lao động đáng kể, góp phần xoá đói giảm nghèo và phát huy được những nét văn hoá đặc sắc từ các làng nghề truyền thống. Qua quá trình sản xuất lâu đời, trong các làng nghề ấy xuất hiện những người thợ giỏi nghề, tâm huyết, gắn bó với nghề, có khả năng sáng chế hay cải thiện kỹ thuật và sáng tạo những sản phẩm tinh xảo, hoàn mỹ mà dân gian gọi là nghệ nhân, thợ cả.
Nhờ có chính sách duy trì, bảo tồn các làng nghề truyền thống và khuyến khích phát triển làng nghề mới nên đến nay GTSX của làng nghề trên địa bàn tỉnh ước đạt hơn 5.120 tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với năm 2005 (tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2011 là 21,5%/ năm). Các huyện, thị xã, thành phố đạt kết quả sản xuất TTCN cao là Bình Giang, Chí Linh, Tứ Kỳ, Nam Sách, TP Hải Dương.
Hiện nay trong toàn tỉnh có 61 làng nghề, phân bố dải  khắp 12 huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh. Những huyện có mức độ tập trung nhiều làng nghề nhất: huyện Gia Lộc (9 làng nghề), huyện Tứ Kỳ (8 làng nghề), Chí Linh (7 làng nghề), Thanh Miện (7 làng nghề). Hiện nay 61 làng nghề đã được UBND tỉnh cấp bằng công nhận làng nghề công nghiệp - TTCN, có trên  80% số làng trong tỉnh có nghề TTCN. Nhiều sản phẩm làng nghề được duy trì, phát triển và luôn khẳng định thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước: bánh đậu xanh (TP Hải Dương), thêu ren (Tứ Kỳ), mây tre đan (Thanh Miện), đồ gỗ mỹ nghệ Đông Giao (Cẩm Giàng), gốm, sứ Chu Đậu (Nam Sách), Bánh gai (Ninh Giang), cơ khí Kẻ Sặt (Bình Giang), giầy da Hoàng Diệu (Gia Lộc), …
Các làng nghề đã tạo việc làm cho hơn 108 nghìn lao động nông thôn, chiếm 11,4% tổng số lao động xã hội toàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,02%, trong đó khu vực giải quyết nhiều lao động nhất là khối kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 17,2%. Mức thu nhập bình quân của lao động ở làng nghề từ 600 nghìn đến 2 triệu đồng/người/tháng.
Nhiều làng nghề đã hình thành các doanh nghiệp công nghiệp nông thôn, doanh nghiệp làng nghề làm trung tâm, đầu mối đào tạo truyền nghề, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm cho các hộ sản xuất TTCN.
 
Các làng nghề phát triển đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng “ly nông bất ly hương”. Sự lan tỏa của các làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất của tỉnh, thu hút nhiều lao động, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, góp phần làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp. Đồng thời, phát huy làng nghề ở Hải Dương còn phát huy được những lợi thế của tỉnh về nguồn nguyên liệu sẵn có và góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Việc duy trì và phát triển các làng nghề đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. Song, trên thực tế, các làng nghề trong tỉnh hiện phát triển chưa đồng đều và những khó khăn từ bên trong đang là thách thức mà các làng nghề phải đối mặt. Trong đó, có những khó khăn lớn như: thiếu vốn, mặt bằng sản xuất chật hẹp, môi trường bị ô nhiễm, thị trường chưa được mở rộng, trình độ quản lý chậm được nâng cao…
Nguồn vốn đang sử dụng chủ yếu là vốn tự có và vốn vay thương mại quá thấp so với nhu cầu. Việc này đã làm hạn chế khả năng đầu tư mở rộng sản xuất của các đối tượng này.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực lao động làng nghề khá đông nhưng chủ yếu vẫn là lao động thủ công. Hiện nay, tỷ lệ lao động làng nghề đã qua đào tạo còn quá mỏng, chỉ chiếm khoảng từ 10 đến 12,3%. Việc dạy nghề, phần lớn theo lối truyền nghề trong các gia đình, hoặc những lớp ngắn ngày do địa phương tổ chức cho con em trong vùng. Rất ít làng nghề tổ chức đào tạo bài bản. Do vậy, hiệu quả dạy nghề chưa cao.
Đặc biệt, công tác đổi mới thiết bị - công nghệ phục vụ sản xuất cũng như tiếp cận thị trường còn hạn chế. Hầu hết các làng nghề phát triển chưa có quy hoạch. Các làng nghề chưa có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm nên bị thua thiệt khi cạnh tranh trên thị trường
Đáng chú ý, hiện nay sản xuất TTCN và làng nghề trong tỉnh còn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường như: cơ sở giết mổ gia súc, chế biến thực phẩm bún, bánh đa... trong khi các giải pháp phòng ngừa khắc phục tình trạng ô nhiễm chưa được quan tâm đúng mức.
Theo Hiệp hội làng nghề Việt Nam, làng nghề vẫn đang có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Như vậy, trong bối cảnh phát triển kinh tế theo xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, duy trì và phát triển các làng nghề của tỉnh luôn giữ vai trò, ý nghĩa quan trọng nhất định. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu mới, làng nghề của tỉnh phải có chiến lược phát triển mới, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn. Ở làng nghề, cơ sở sản xuất phổ biến là hộ gia đình, bên cạnh đó là một số công ty và doanh nghiệp tư nhân, phần lớn có quy mô nhỏ. Vì vậy, các địa phương cần tham gia vào đổi mới tổ chức quản lý, khắc phục lối quản lý kiểu gia đình, thiếu chiến lược kinh doanh, tăng năng suất, chất lượng và không ngừng nâng cao hiệu quả. Xem xét danh mục sản phẩm chủ lực cần duy trì và phát triển, kiên quyết loại bỏ sản phẩm không có thị trường. Tập trung các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm, ứng dụng công nghệ mới, nghiên cứu đổi mới mẫu mã, khai thác thị trường… Phát triển sản phẩm nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát huy những thế mạnh của ngành nghề truyền thống.
Bên cạnh đó, cần rà soát lại việc thực hiện các cơ chế chính sách của tỉnh về khuyến khích phát triển nghề và làng nghề, trợ giúp bảo vệ môi trường, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực. Tăng cường các quan hệ liên doanh liên kết về nhiều mặt trong sản xuất kinh doanh để cùng nhau nâng cao uy tín thương hiệu nghề.
Song song với thay đổi chiến lược phát triển, việc vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị máy móc, đầu tư xử lý môi trường…, cần được ưu tiên hàng đầu trong chính sách vay vốn ở các làng nghề trong tỉnh. Đó là những điều kiện cần cho sự phát triển bền vững, hiệu quả của làng nghề của tỉnh hiện nay.
 
 

Tác giả bài viết: NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017