00:33 +07 Chủ nhật, 22/10/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Đơn vị trực thuộc » Khoa - Tổ chuyên môn » Khoa Xã hội

Triết lí về chiến tranh trong Cõi đời hư thực của Bùi Thanh Minh

Thứ ba - 25/02/2014 20:30
TRIẾT LÍ VỀ CHIẾN TRANH
 TRONG CÕI ĐỜI HƯ THỰC CỦA BÙI THANH MINH
Nguyễn Thị Thanh
Trong Cõi đời hư thực (1), tác phẩm đoạt giải thưởng Bộ quốc phòng năm 2009, Bùi Thanh Minh đã đưa ra những triết lí khá sắc sảo về chiến tranh từ điểm nhìn khác nhau của hai thế hệ cha con.
Nhân vật chính trong tác phẩm là Trần Củng, một người đã dâng hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc. Cuộc đời Trần Củng được vợ anh kể lại: Năm 1965, anh đi bộ đội, đầu năm 1966 về phép mười ngày và cưới vợ. Vợ chồng ở với nhau hai ngày, hai đêm. Năm 1970 được tuyên dương anh hùng, anh ra Bắc báo cáo, tạt qua nhà dăm ba ngày “ngày đi thăm hỏi họ hàng, làng xóm, tối tiếp khách, chơi bời với bạn bè đến mười một, mười hai giờ khuya. Vợ chồng dành cho nhau tính bằng giờ” (tr.12). Năm 1975 về phép một lần, 1978 lại sang Campuchia đánh nhau, 1989 anh được điều về làm Huyện đội trưởng ở quê hương. Không lâu sau, anh phát bệnh thần kinh, phải về gia đình điều trị. Hạnh phúc của vợ chồng anh “chung quy lại chỉ có bốn chữ CĐ và CĐ (chờ đợi và chịu đựng)” (tr.12).
Từ chính cuộc đời mình, Trần Củng ghi lại suy ngẫm vừa giản dị vừa sâu sắc: “Chiến tranh là một sự ép buộc, như người ta đành phải tung chăn, xông ra giữa đêm đông để đánh trả bọn trộm cướp” (tr.42). Đây là cách so sánh rất phù hợp với những người từng trải nghiệm mất mát, đắng cay. Bị ám ảnh bởi bao cái chết thương tâm: “Suốt đời anh, suốt cuộc đời cầm súng chiến đấu, không bao giờ quên được hình ảnh bà cụ Thủ cụt đầu nằm vắt ngang bể, hình ảnh Quyên miệng ngậm rau muống vục mặt vào bát canh mà chết, và lá gan tím lịm, khô héo của ông Nhậm treo lủng lẳng trên ngọn tre” (tr.68-69), Củng hiểu rằng “Chiến tranh đồng nghĩa với tội ác” (tr.287). Không chỉ hủy diệt sự sống, chiến tranh còn hủy hoại văn hóa, tước đoạt quyền học tập của con người. Với Trần Củng, đó là điều vô cùng xót xa: “Thế hệ chúng tôi hầu như không được nghiên cứu, tiếp thu triết học phương Đông, ở đó có một khối lượng kiến thức đồ sộ của Phật giáo rất gần gũi với tư duy người Việt Nam ta” (tr.62). Thực tế cho thấy: “Đất nước có chiến tranh mọi người dân cũng phải chịu mệnh của đất nước chi phối, không cách này thì cách khác, không trước thì sau” (tr.268). Ở bất kì thời đại nào, bất kì hoàn cảnh lịch sử nào, vận mệnh cá nhân thường gắn với vận mệnh mệnh dân tộc; thời chiến, sự gắn bó ấy càng khăng khít. Sinh ra và lớn lên vào thời tao loạn, cũng như bao đồng đội, Trần Củng xác định: “Lịch sử và tổ tiên giao cho thế hệ anh phải hi sinh, phải chịu thiệt thòi để cho mầm xanh của dân tộc hồi sinh. Anh không có gì phải ân hận hoặc so đo tính toán” (tr.69). Sống trên mảnh đất thường phải gánh họa ngoại xâm, không ít thế hệ người Việt Nam có suy nghĩ và hành động như vậy. Song vì sao viết về chiến tranh và số phận người lính, tác giả Bùi Thanh Minh lại nhìn “cõi đời” thành “hư thực”? Có phải vì chiến tranh đã tước đoạt mọi quyền mà tạo hóa ban cho con người: quyền được sống, quyền được trải nghiệm hạnh phúc trần thế, quyền được học hành…? Chiến tranh có thể biến cõi đời thành hư thực, đó là triết lí sâu sắc mà Bùi Thanh Minh gửi gắm trong tác phẩm. Triết lí ấy thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.
Trong Cõi đời hư thực, nhà văn đã đưa ra hành trình nhận thức của thế hệ trẻ về chiến tranh qua cuộc đối thoại tư tưởng giữa hai thế hệ cha - con. Sự lo lắng về việc con cháu không hiểu hết ý nghĩa cuộc kháng chiến giữ nước đã qua, không thấu hiểu cái giá máu xương mà cha anh đã đổ vì cuộc sống hòa bình hôm nay là mối lo thường trực của thế hệ đi trước. Trở về đời sống hòa bình, Trần Củng luôn bị những cơn điên hành hạ. Trạng thái điên loạn của anh rất kì lạ: “Ngày nào không được nghe một câu chuyện về quá khứ vinh quang của mình, y rằng ngày hôm sau anh ấy sẽ lên cơn tâm thần” (tr.8).  Mỗi tối vợ con Củng phải thay nhau kể một câu chuyện gì đó về quá khứ của anh, “Suôn sẻ thì không sao. Nhưng nếu không may kể sai, hoặc vô lý chỗ nào, lập tức mắt anh ấy trợn ngược, miệng quát: “Vô lý, vô lý!” hoặc “Á , mày bôi nhọ quá khứ của bố hả?”. Rồi bổ vào người để bóp cổ, đánh đập, lột xé tanh bành bất biết là ai” (tr.9). Phản ứng trên cho thấy, mối lo bị “bôi nhọ quá khứ” đã ăn vào tiềm thức của Củng. Nhưng vào lúc tỉnh táo, Củng lại có suy nghĩ khác: “Trời ơi, con gái anh tiếp xúc với chiến tranh qua những trang sách trên ghế nhà trường bằng những áng văn thơ lãng mạn, nên nhìn chiến tranh qua lăng kính màu hồng. Mà những trang sách, kể cả sách lịch sử, văn học thế hệ con gái anh nhận được mới có một nửa sự thật, ấy là cái nửa lãng mạn, nửa oai hùng và chiến thắng. Còn một nửa sự thật ghê sợ, bi thương chưa được phép nói ra, hoặc không được phép nói ra thì thế hệ con gái anh chưa biết đến. Nên nó không sợ chiến tranh, không nguyền rủa chiến tranh cũng phải” (tr.176-177). Mối lo quá khứ bị bôi nhọ cùng mối lo thế hệ con gái không hiểu cái giá máu xương mà thế hệ mình phải trải qua đã làm cho căn bệnh thần kinh ở Trần Củng thêm trầm trọng. Suy nghĩ của Trần Củng ít nhiều chứa đựng tư tưởng đối thoại với văn học chiến tranh giai đoạn trước. Qua đó, Bùi Thanh Minh chính thức đặt vấn đề về trách nhiệm của nhà văn và nhà viết sử trong việc giúp thế hệ trẻ nhận chân bản chất chiến tranh.
Chứng kiến cảnh người cha bị cơn điên hành hạ hàng ngày, Quế băn khoăn: “Nghĩ cũng lạ, tự dưng con người mang nhau ra chiến trường để đày ải nhau làm gì.(...) Giá mà đất nước không trải qua chiến tranh nhỉ. Chắc là con người sung sướng lắm rồi” (tr 200). Nhìn vào cuộc hôn nhân của cha mẹ, “Quế chỉ không thể tưởng tượng nổi sau này Quế lấy chồng, chồng Quế cứ xa biền biệt để Quế phải nuôi con một mình như mẹ và bố Củng. Làm sao mà thế hệ bố mẹ Quế lại làm được điều kinh khủng ấy? (…) Chiến tranh đúng là ngu ngốc. Chiến tranh sẽ làm cho con người ta ngu đần. Thử hỏi, nếu đất nước cứ chiến tranh, thì làm sao Quế có bằng đại học, biết hai ngoại ngữ và biết nghiên cứu khoa học để làm giàu cho quê hương” (tr.177). Vậy là khác với nỗi lo của người cha, từ thước đo cuộc sống thời bình, Quế đã biết “sợ”, biết“nguyền rủa chiến tranh”. Triết lí của cô xuất phát từ khát vọng tự nhiên về hạnh phúc. Nó chính là hằng số quan trọng nhất đối với con người mọi thời, mọi chốn. Quế không tìm hiểu chiến tranh theo hướng để kết án kẻ nào phải chịu trách nhiệm mà chỉ suy tư về nó như sản phẩm điên rồ của loài người. Do đó, quan niệm của Quế và của người cha về chiến tranh là rất khác biệt.
Nhưng cuối cùng, tình người sẽ là điểm kết nối nhận thức hai cha con. Lúc người cha phát bệnh nặng, ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mong manh, Quế rất ân hận: “Lẽ ra con cần phải hiểu cha, hiểu thế hệ của cha đã phải khổ cực thế nào chỉ để cho con, thế hệ con được hạnh phúc. Vậy mà con cứ thờ ơ, vô tư, coi việc hưởng thụ là đương nhiên, để cha phải đau xót. Con, thế hệ con đòi hỏi ở cha, thế hệ cha nhiều quá, trong khi chiến tranh đã vắt kiệt tâm sức của cha” (tr.297). Cô thương cha, thương thế hệ đi trước phải sống một hoàn cảnh ngặt nghèo. Trần Củng đã hiểu và rất yên tâm về thế hệ con mình: “Con gái chúng ta hiểu và biết ơn thế hệ cha anh bằng cách riêng của thế hệ chúng nó. Mỗi thế hệ có cách đi riêng của mình, mà thế hệ trước không thể vạch sẵn đường, áp đặt cho thế hệ sau. Cũng như thế hệ trước đi tới đích bằng đôi chân dép lốp. Còn thế hệ sau đến đích bằng cánh của một chiếc máy bay. Như thế là con gái có hiếu với cha mẹ. Có hiếu với cha mẹ là có hiếu với đất nước... Con biết ơn cha mẹ là nhà có phúc. Thế hệ sau biết ơn thế hệ trước là đất nước có hồng phúc, phồn thực” (tr.294-295). Sự sang chấn tư tưởng của hai cha con Trần Củng làm nên tính luận đề cho tác phẩm, thể hiện khả năng triết luận sắc sảo, giàu sức thuyết phục của tác giả Bùi Thanh Minh.
Cõi đời hư thực sử dụng thành công nghệ thuật đồng hiện. Tác phẩm có hai mạch truyện đan cài chặt chẽ vào nhau. Mạch truyện hiện tại diễn ra trong vòng hơn hai tháng, mở đầu bằng cơn điên của Trần Củng, kết thúc khi Củng phát bệnh nặng. Mạch truyện quá khứ được kể qua nhật kí Trần Củng và vài đoạn hồi ức khi anh tỉnh táo, tái hiện khoảng thời gian từ lúc Củng nhập ngũ, đi B rồi về quê cưới vợ và tiếp tục vào chiến trường. Thông qua lối đồng hiện bằng cách để Mạ, Bằng, Quế đọc nhật kí cho Trần Củng nghe, tác giả cho các nhân vật trực tiếp triết luận về chiến tranh, về đời sống hiện tại mà vẫn không gây cảm giác nặng nề. Hình thức đồng hiện cũng giúp nhà văn dễ dàng hơn khi pha trộn chất triết luận với chất sử thi và chất bi kịch trong một tác phẩm.
Qua Cõi đời hư thực, Bùi Thanh Minh đã ngợi ca người lính đánh Mĩ bằng triết lí và suy ngẫm riêng của mình. Nhà văn rất có lí khi khẳng định: “Tuổi trẻ của họ thật đẹp và ý nghĩa. Thật không may cho ai, sinh ra cùng thời với họ, mà không được đi đến tận cùng những cay đắng và vinh quang, không được bộc lộ hết khả năng của mình, không ngân lên được cung bậc tột cùng của tình cảm như họ” (tr.282). Tác phẩm cũng là lời tri ân sâu sắc với những người không tiếc máu xương vì cuộc sống hòa bình hôm nay.
 


(1) Bùi Thanh Minh, Cõi đời hư thực, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007.
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017