19:08 ICT Thứ tư, 23/04/2014





Liên kết


 

 

 





Trang nhất » Tin Tức » Khoa Xã Hội



HƯỚNG DẪN SV SOẠN GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN

Thứ ba - 11/10/2011 09:53

I.  KHÁI QUÁT VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ VÀ POWERPOINT:

1.          Quan niệm về giáo án điện tử:

1.1.Một số quan niệm giản đơn: Hiện nay vẫn còn tồn tại một số quan niệm giản đơn về trình chiếu PowerPoint, đồng nhất hóa giữa trình chiếu PowerPoint với thiết kế giáo án trình chiếu trên cơ sở phần mềm PowerPoint.

-    Một số người, do không biết và không sử dụng hết được tính năng của PowerPoint , không biết tích hợp với một số nội dung trình chiếu và phần mềm khác nên đã quan niệm trình chiếu PowerPoint chỉ là thay cho viết bảng. Với quan niệm này, nội dung trình chiếu chỉ còn giản đơn là một vài tiêu đề của bài học, một vài dẫn chứng hoặc thí dụ. Do không có các hoạt dộng tương tác khác đi kèm nên cách trình chiếu này đơn điệu, khoảng thời gian tồn tại của các tiêu đề trên bảng quá dài (gọi là thời gian chết), xen vào đó chỉ là lời diễn giảng thuyết minh của giáo viên nên gây cảm giác đơn diệu, nhàm chán, chóng mệt mỏi cho người học. Kết quả, không sinh động bằng viết bảng.

-    Một số người do nắm được một số tính năng hoạt hình của PowerPoint nhưng lại không tương thích được với các hoạt động, các thao tác và nội dung dạy-học nên lại đơn giản hóa trình chiếu theo một hướng khác, cho rằng trình chiếu là chuyển từ dạng tĩnh (viết bảng) sang dạng động. Với cách quan niệm này, các slide, các tiêu đề, các tài liệu dạy-học,… được thiết kế xuất hiện với những chế độ hoạt hình phức tạp, không những không ăn nhập gì với nội dung dạy-học mà còn làm mất nhiều thời gian, gây nhiễu, chỉ gợi trí tò mò của học sinh một vài lần xuất hiện, sau đó làm mất tập trung, gây nhàm chán.

-    Một số người quan niệm PowerPoint chỉ là phương tiện kĩ thuật hỗ trợ cho việc trang trí các trang trình chiếu sao cho bắt mắt mà không quan tâm đúng mức tới tính quy phạm của một giáo án, vì thế dẫn đến lựa chọn các mầu nền, ảnh nền của các slide lòe loẹt, sử dụng chữ nghệ thuật, thay đổi kiểu chữ tùy tiện, đưa thêm những trang trí không cần thiết, tạo các xuất hiện động không phù hợp,…Hậu quả của kiểu thiết kế này là chỉ kích thích tính tò mò, hiếu kì của học sinh, làm phân tán chú ý, không những không nâng cao được hiệu quả mà trái lại, còn làm giảm sút chất lượng và hiệu quả dạy-học.

-    Cùng chung một quan niệm như trên, một số người còn đưa thêm quá nhiều tranh ảnh mà phần lớn lại là “chim muông hoa lá”, thậm chí còn mặc định thêm cả chế độ Play sound với những thanh âm không phù hợp, không liên quan gì đến nội dung bài học. Tất nhiên, với cách quan niệm và thiết kế này, hậu quả cũng giống hệt như hai cách quan niệm vừa nêu trên.

1.2. Một quan niệm đúng: Cần hiểu “Giáo án trình chiếu điện tử” là bản thiết kế toàn bộ quá trình dạy-học một đơn vị bài học (bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp) trên phương tiện trình chiếu điện tử. Trong bản thiết kế này, các thao tác trình chiếu phải luôn tương tác và tương thích với các thao tác dạy-học, đảm bảo được mối quan hệ hoạt động (thày-tri thức và kĩ năng-trò), trở thành một phương diện thể hiện cụ thể hóa của một phương pháp dạy-học bộ môn nhất định. Trong bản thiết kế này có thể có các hình ảnh, âm thanh, các mô phỏng thí nghiệm ( thí nghiệm ảo - sử dụng các phần mềm để mô phỏng),...

2. Những yếu tố cấu thành một giáo án điện tử:

2.1.Nội dung dạy-học:

 +) Các đơn vị kiến thức: Các tính năng hỗ trợ kĩ thuật của PowerPoint và các phần mềm hỗ trợ khác về bản chất là một cơ sở kĩ thuật như nhau cho mọi thiết kế. Chính đặc điểm các đơn vị kiến thức của một bài học quyết định việc lựa chọn tính năng này hay tính năng kia, thao tác kĩ thuật này hay thao tác kĩ thuật kia và vì vậy, việc hiểu rõ đặc điểm của đơn vị kiến thức, tính tương tác và tương thích của các tính năng và thao tác kĩ thuật công nghệ với đặc điểm của đơn vị kiến thức là rất cần thiết trong quá trình thiết kế. Trong một “Giáo án trình chiếu điện tử” của chuyên ngành Ngữ-Văn, tuy nội dung bài học đã được biên soạn theo tinh thần tích hợp ba phân môn Văn-Tiếng Việt-Làm văn nhưng các đơn vị kiến thức thành phần của mỗi bài học thì vẫn mang những đặc điểm riêng của từng phân môn. Chính vì vậy, trong thiết kế phải chú ý đúng mức tới tính đặc thù này để lựa chọn các tính năng và thao tác kĩ thuật hỗ trợ cho phù hợp ( Thí dụ: Khi dạy-học các tri thức về phân loại câu thuộc phân môn tiếng Việt, thiết kế và thao tác tương thích là sử dụng các Graph với sự hỗ trợ của “ Insert Diagram or Organization Chart ” và chế độ hiển thị là “ Zoom–Each level, shape by shape” hoặc sử dụng “Mindjet MindManager. Trong khi đó, dạy-học các tri thức về  “Tuyên ngôn độc lập” thuộc phân môn Văn khi giới thiệu về xuất xứ của bản Tuyên ngôn lại phải thiết kế tích hợp cả ba kênh hình-tiếng-chữ. Kênh hình phải thiết kế cả hai chế độ, chế độ tĩnh là ảnh Hồ Chủ Tịch đứng đọc Tuyên ngôn, chế độ động là một video clip cảnh Quảng trường Ba Đình trong ngày đọc Tuyên ngôn. Kênh tiếng phải thiết kế tích hợp trích đoạn ghi âm với ảnh Hồ Chủ Tịch đứng đọc Tuyên ngôn sao cho khi kích chuột (Click) vào ảnh thì lời cũng đồng thời được phát).

-        Các kĩ năng cần hình thành, củng cố: Mỗi phân môn trong môn học chung Ngữ-Văn đều có những yêu cầu và đặc điểm riêng trong rèn luyện kĩ năng. Ở phân môn Văn, các kĩ năng đọc diễn cảm, phân tích các hình tượng văn học (không gian, thời gian, nhân vật,…), phân tích cốt truyện, kết cấu, các yếu tố ngôn ngữ tác phẩm, các thủ pháp nghệ thuật,… đòi hỏi một phương hướng lựa chọn các tính năng và thao tác kĩ thuật hỗ trợ phù hợp riêng. Ở phân môn tiếng Việt, các kĩ năng tạo tình huống giao tiếp, phân tích các nhân tố giao tiếp của tình huống, phân tích đặc điểm hoạt động và quy tắc sử dụng của các khái niệm và quy tắc tiếng Việt lại đòi hỏi một phương hướng lựa chọn các tính năng và thao tác kĩ thuật hỗ trợ khác, phù hợp. Cũng tương tự như vậy, các kĩ năng cần rèn luyện củng cố ở phân môn Làm văn như kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, kĩ năng diễn đạt đoạn, kĩ năng liên kết,…sẽ đòi hỏi một phương hướng lựa chọn các tính năng và thao tác kĩ thuật hỗ trợ tương thích. 

-        Tư liệu tích hợp (kênh chữ/kênh hình/kênh tiếng): Nhìn chung, cả 3 phân môn của môn chung Ngữ-Văn đều đòi hỏi khi thiết kế phải tích hợp được cả 3 kênh (kênh chữ/kênh hình/kênh tiếng) song cách thức và mức độ có khác nhau. Ngay trong cùng một phân môn thì không phải ở bài nào cũng cần phải có đủ cả 3 kênh và khi cần tích hợp thì mỗi bài, mỗi đơn vị kiến thức cũng đòi hỏi những cách thức và mức độ tích hợp 3 kênh khác nhau. Bản thân đặc điểm của những tư liệu được tích hợp như ảnh, video clip, nhạc, ghi âm, các kiểu văn tự, các văn bản tham khảo, đối chiếu,… có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc lựa chọn các tính năng và thao tác kĩ thuật hỗ trợ. Thí dụ: Nếu văn bản tham khảo là một trích đoạn, có thể trình bầy gọn trên một Slide thì có thể chọn tính năng “Microsoft PowerPoint  Presentation” nhưng nếu là một văn bản dài thì phải sử dụng tính năng liên kết (Hyperlink) với “Microsoft Word” và để ở chế độ “Web layout”, hoặc trong một Text Box có thanh cuốn (ScrollBars ) được dán trên Slide với sự mặc định các tính năng: Properties - Enter KeyBehavior-True; Font – Times New Roman – Bold 28; Multiline – True; ScrollBars – 3fmScrollBarsBoth .…

2.2. Thao tác dạy-học các đơn vị kiến thức và kĩ năng: Trong quy trình dạy-học bất cứ môn học nào, trong đó có Ngữ-Văn, khi thiết kế một giáo án, bao giờ người thiết kế cũng phải dự tính các tình huống dạy-học, các thao tác điều khiển, tổ chức cho học sinh tham gia quan sát, phát hiện, phân tích, chiếm lĩnh, thực hành rèn luyện và củng cố các tri thức, các kĩ năng. Tuy nhiên, khi cụ thể hóa các tình huống, các thao tác này trên giáo án và trong thi công bài học thì người thiết kế không thể đồng nhất giữa không sử dụng công nghệ hỗ trợ với có sử dụng các phần mềm công nghệ hỗ trợ. Chẳng hạn, cùng một tình huống đàm thoại, cùng một thao tác phát vấn nhưng khi phương tiện hỗ trợ chỉ là bảng đen, phấn trắng thì người thiết kế phải lựa chọn những cách thức điều khiển thích hợp như nêu câu hỏi bằng lời, ghi vắn tắt ý kiến của học sinh lên bảng, nhận xét hiệu chỉnh bằng lời,... Còn nếu như có sử dụng trình chiếu PowerPoint thì tình huống đàm thoại có thể được thiết kế theo nhiều cách. Đơn cử, có thể thiết kế theo cách lập một Slide chủ, đặt các liên kết với các slide của PowerPoint  Presentation, trên mỗi trang liên kết có đánh số thứ tự này, thiết kế 1 câu hỏi phát vấn kèm theo một cửa sổ Text Box để ghi ý kiến đàm thoại của học sinh. Cuối đàm thoại, chỉ cần liên kết theo số thứ tự với các phương án lựa chọn được thiết kế và liên kết ngay trên Slide đàm thoại này để học sinh lựa chọn phương án đúng-sai, phù hợp-không phù hợp,...

2.3. Kĩ thuật trình chiếu: Đây cũng là một nhân tố có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng của một “Giáo án trình chiếu điện tử”. Nếu sử dụng đúng các tính năng và thao tác kĩ thuật thì khi thực thi giáo án, người thi công sẽ thao tác dễ dàng, các hoạt động điều khiển diễn ra hoàn toàn trùng khớp với hoạt động và thao tác dạy-học, người học không bị phân tán vào các thao tác máy mà bị cuốn hút vào các tình huống học tập. Trái lại, nếu sử dụng các tính năng và thao tác kĩ thuật không phù hợp thì không những không tiết kiệm thời gian, tạo hứng thú học tập mà ngược lại còn phản tác dụng. Khi xác định để lựa chọn các tính năng, các thao tác kĩ thuật của PowerPoint , cần chú ý một số phương diện chính sau đây:

-  Kiểu xuất hiện (của slide, của các thành tố nội dung trong slide,…): Không nên quan niệm đây đơn thuần chỉ là yếu tố kĩ thuật, không ảnh hưởng gì tới nội dung dạy-học và hiệu quả dạy-học. Trong lập trình của PowerPoint có rất nhiều chế độ xuất hiện của Slide (Apply to Selected Slides ), của các thành tố nội dung trong mỗi Slide (Effect-Entrance, Emphasis, Exit, Motion paths,…). Mỗi kiểu xuất hiện như vậy kèm theo với những mặc định về thông số kĩ thuật sẽ cho ra những hiệu quả trình chiếu rất khác nhau. Nếu lựa chọn kiểu xuất hiện tương thích với đặc điểm của đơn vị kiến thức và đặc điểm của hoạt động, thao tác cụ thể hóa cho phương pháp dạy-học đơn vị kiến thức đó thì sẽ có sự cộng hưởng giữa hỗ trợ kĩ thuật với nội dung và kĩ năng chuyên môn. Ngược lại sẽ phản tác dụng. Thí dụ: Với một Slide đưa tài liệu tham khảo khi dạy-học một tác phẩm văn học, nếu chọn chế độ “ Effect-Entrance-Strips-Right Up-Timing-On click-Medium-none ” thì giáo viên khi thao tác sẽ khớp với lời giới thiệu tài liệu, học sinh dễ theo dõi; nếu chọn chế độ “ Effect-Entrance-Spiral in-Timing- With Previous-Fast- Until end of slide ”, thao tác và lời của giáo viên sẽ không khớp với thao tác máy, học sinh sẽ bị phân tán tư tưởng, khó quan sát tài liệu,…

-  Giao diện (Fill, AutoShapes, Button, MultiPage, Text box, colors, chữ/hình/tiếng): Đây cũng là một thành tố quan trọng làm nên nội dung trình chiếu của một giáo án trình chiếu. Nhìn chung, trong dạy-học Ngữ-Văn, giao diện của mỗi Slide đều phải thân thiện với người học, phù hợp với nội dung dạy-học, không gây phản cảm. Muốn vậy, nền (Fill) của các Slide nên chọn các mầu trầm hoặc hơi sáng, tốt nhất là nên tạo nền thứ cấp (Background), không nên chọn các mầu lòe loẹt, chói hoặc quá tối, nhất là lại thêm ảnh nền. Với các AutoShapes, Text box thì nên để nền (Fill) mầu trắng vì như thế sẽ dễ trình bầy kênh chữ, do có độ tương phản cao nên khi trình chiếu, chữ sẽ nét hơn, học sinh dễ theo dõi hơn. Trừ trường hợp kênh chữ là chữ Hán hoặc chữ Nôm thì có thể chọn nền mầu đỏ sẫm hoặc đen và lúc đó phải đổi mầu kênh chữ sang vàng hoặc trắng để đảm bảo độ tương phản. Khi có tích hợp với kênh hình và kênh tiếng thì phải lựa chọn đúng vị trí, kích cỡ của hình, kiểu xuất hiện của hình, thời điểm và thời gian xuất hiện của âm,…

-  Thao tác trên máy (chuột/phím/duyệt/trở lại/liên kết/nhập/xóa/…): Đây là một thành tố rất quan trọng của một thiết kế. Nhìn chung phải đảm bảo yêu cầu luôn tương thích với các hoạt động, các thao tác cụ thể hóa cho một phương pháp dạy-học bộ môn, đơn giản, dễ thực hiện, nhanh, chính xác, các thao tác “duyệt/trở lại/liên kết/ nhập/xóa…” chủ yếu phải được thực hiện bằng các thao tác trên chuột, các phím mũi tên, phím “ Esc ”, vạn bất đắc dĩ mới phải dùng đến các lệnh trong danh sách thả.

3.   Khái quát về PowerPoint, khả năng ứng dụng thiết kế giáo án Ngữ-Văn:

3.1.PowerPoint là một phần mềm mạnh, rất tiện dụng cho việc thiết kế các phiên trình chiếu. Bắt đầu từ phiên bản Microsoft Office PowerPoint 2003, phần mềm này đã được nâng cấp với rất nhiều tính năng vượt trội, có khả năng tích hợp cao, bạn có thể thiết kế các phiên trình chiếu thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau với những mẫu có sẵn hoặc tự tạo theo yêu cầu của việc trình chiếu, có thể tích hợp với Word, với Excel, với Media Player, Mindjet MindManager, Violet, với Mypictures và có thể chèn các Chart, các Video Clips,...

3.2. Riêng đối với chuyên ngành Ngữ-Văn, việc thiết kế giáo án ở 2 phân môn Văn và Ngữ có nhiều điểm rất khác nhau, đòi hỏi phải có những thao tác kĩ thuật thiết kế tương thích. Nếu biết tận dụng tất cả các tính năng, PowerPoint có thể đáp ứng được dường như hầu hết những đòi hỏi này.

- Ở phân môn văn, thiết kế giáo án dạy-học một tác phẩm văn học, sau khi đã xác định rõ tác phẩm đó thuộc bộ phận văn học nào, dòng văn học nào, thể loại gì,… người thiết kế có thể vận dụng các tính năng của PowerPoint để thiết kế một giao diện với các liên kết tích hợp và kiểu hiển thị phù hợp với yêu cầu của việc dạy-học tác phẩm văn học đó (chẳng hạn các yêu cầu về đưa dị bản, đưa tư liệu về những nhận xét đánh giá tham khảo, tư liệu về phim ảnh, về văn bản Hán - Nôm, tư liệu cơ sở lí luận, đọc diễn cảm, các làn điệu dân ca, ghi chép trực tiếp các ý kiến tranh luận trong đàm thoại trên lớp,…).

-  Ở phân môn ngữ, thiết kế giáo án dạy-học một đơn vị kiến thức tiếng Việt cho học sinh phổ thông khác với cho học sinh nước ngoài. Với học sinh phổ thông, thiết kế giáo án phải song song hai nhiệm vụ: củng cố các tri thức về khái niệm, về quy tắc hệ thống và rèn luyện các kĩ năng vận dụng vào giao tiếp sản sinh lĩnh hội. Để thực hiện được hai nhiệm vụ này, thiết kế phải sử dụng rất nhiều hình thức bài tập (nhận diện/phân tích/hoàn thiện/thay thế/hoán đổi/lựa chọn, tạo lập sản phẩm,…). Với học sinh nước ngoài, thiết kế giáo án chủ yếu là thiết kế các tình huống giao tiếp ở đó người học phải sử dụng các hiện tượng tiếng Việt được cài đặt vào. Ngoài ra còn phải thiết kế cả những bài tập dịch xuôi, dịch ngược, lựa chọn, tạo lập sản phẩm,…Nếu biết vận dụng các tính năng của PowerPoint , bạn hoàn toàn có thể đáp ứng được những yêu cầu này trong thiết kế. Nhìn chung, ưu điểm nổi trội của PowerPoint  khi vận dụng thiết kế “Giáo án trình chiếu ” các bài học Ngữ-Văn thể hiện ở một số hoạt động và thao tác cơ bản sau:

-    Thay thao tác viết bảng với tốc độ nhanh, không che khuất, có thể cho ẩn hiện, trở đi trở lại một nội dung mà viết bảng không thể thực hiện được,… giúp tiết kiệm thời gian ở mức tối đa.

-    Cho phép tích hợp được nhiều loại kiến thức là tài liệu học tập thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong một đơn vị bài học (ngôn ngữ học, Việt ngữ học, điển tích, điển cố, văn bản chữ Hán, văn bản gốc, lí luận văn học, phê bình tiểu luận,...), đưa ra một cách đúng lúc, đúng chỗ, nhanh chóng, giúp học sinh vừa có điều kiện được trực quan, vừa có cơ sở tri thức để hiểu sâu nội dung bài học. (viết bảng thông thường không thể làm được, kể cả dùng bảng phụ).

-    Cho phép tích hợp được cả 3 kênh thông tin: kênh chữ, kênh tiếng và kênh hình. Tính năng này rất quan trọng đối với dạy-học Ngữ-Văn. Bởi vì, ở phân môn Văn, những yêu cầu về đưa các làn điệu dân ca, các trích đoạn chèo, tuồng,… khi dạy-học các tác phẩm dân gian; đưa các văn bản Hán, Nôm khi dạy-học các tác phẩm Trung đại, đọc diễn cảm khi dạy-học các tác phẩm truyện và thơ trữ tình, v.v… là rất lớn. Ở phân môn tiếng Việt và Làm văn, yêu cầu đưa ngữ liệu, đưa sơ đồ, đưa các bài tập trắc nghiệm, triển khai các dàn ý kết cấu,… cũng rất lớn.

-    Cho phép thiết kế đa dạng hóa các dạng bài tập thực hành, kể cả bài tập trắc nghiệm. Hoạt động này, nếu tiến hành theo cách thông thường không có công nghệ hỗ trợ sẽ rất mất thời gian và nhiều khi trở thành nặng nề, không hấp dẫn (nhất là các kiểu bài tập thay thế, lựa chọn, diễn đạt đoạn, lập dàn ý, thay đổi cách diễn dạt,…trong dạy-học tiếng Việt).

II.                    CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG THIẾT KẾ:

1. Các nguyên tắc về nội dung:

1.1.Đảm bảo tính  phù hợp giữa trình chiếu và nội dung dạy học: Thực hiện nguyên tắc này khi thiết kế phải phân tích, xác định rõ đặc điểm của các yếu tố là nội dung dạy-học (đơn vị kiến thức, tư liệu tham khảo, kĩ năng môn học,…), đặc điểm của phương pháp dạy-học bộ môn để lựa chọn một hình thức trình chiếu phù hợp (giao diện, chế độ xuất hiện, thời gian, thao tác máy,…). 

Thí dụ: Khi thiết kế dạy-học đơn vị kiến thức “ Xác định vị trí chức năng của trạng ngữ trong câu ” cần nhận thức rõ đặc điểm “ trạng ngữ có thể đứng đầu câu, đứng cuối câu và cả ở giữa câu nhưng đứng ở vị trí chức năng nào là do vị trí chức năng của câu và các nhân tố giao tiếp trong ngữ cảnh chi phối và chế định ”. Từ đặc điểm này, khi thiết kế bắt buộc phải đưa ra được những ngữ cảnh điển hình với tư cách là những tình huống giao tiếp điển hình và tương ứng là các đáp án khác nhau để học sinh phân tích, lựa chọn. Các thao tác kĩ thuật hỗ trợ phải tương thích (thao tác đưa tình huống, thao tác xác định vị trí chức năng câu, thao tác hiển thị đặc điểm chi phối chế định của các nhân tố giao tiếp, thao tác đưa các đáp án vào vị trí chức năng để thử nghiệm, thao tác loại bỏ và lựa chọn,…).

1.2. Đảm bảo tính hoạt động, thao tác hóa: Thực hiện nguyên tắc này, tất cả các nội dung đưa ra dạy-học, các phương pháp dạy-học bộ môn phải được chuyển hóa thành các hoạt động, các thao tác trình chiếu, phải đảm bảo tính tương tác trong cơ chế hoạt động “trò-thày-trò”. Tuyệt đối không biến màn hình thành một “giao diện chết”, không “ người hoạt động một đằng, máy thao tác một nẻo ”.

Thí dụ: Khi tổ chức một đàm thoại bằng hình thức phát vấn thì đàm thoại này phải được chuyển hóa thành hoạt động, thao tác trình chiếu. Khi giáo viên nêu  câu hỏi thì câu hỏi phải được xuất hiện bằng một thao tác máy. Khi giáo viên lưu ý, gợi mở một nội dung quan trọng nào đó của câu hỏi thì nội dung đó phải được đánh dấu trên màn hình bằng một thao tác máy. Khi học sinh trả lời thì nội dung trả lời của học sinh phải được nhập và hiển thị trong một cửa sổ Text Boxt mà không cần phải chuyển từ chế độ Slide Show về chế độ Normal View. Khi giáo viên tổng hợp ý kiến đàm thoại nêu đáp án thì đáp án phải được hiển thị bằng một thao tác máy,…).

1.3. Đảm bảo tính tích hợp cao: Thực hiện nguyên tắc này, người thiết kế phải căn cứ vào đặc điểm bài học để xác định những kiến thức và kĩ năng cần tích hợp, để lựa chọn các phương thức tích hợp phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất.

Thí dụ:  Khi thiết kế để dạy-học tác phẩm “ Chữ người tử tù ” của Nguyễn Tuân thì người thiết kế phải ý thức rõ về “ bút pháp lạng mạn ”, “ Nguyễn Tuân và cá tính sáng tạo ”, “ nghệ thuật chơi chữ và thư pháp ”, “ Huấn Cao và nguyên mẫu lịch sử cao bá Quát ”, “ kĩ năng phân tích vai trò của tình huống truyện”,… để tích hợp trên hai kênh “ chữ-hình ”, tích hợp các kiến thức về lí luận, về văn hóa dân tộc, về thư pháp,…

2. Các nguyên tắc kĩ thuật:

2.1.Đảm bảo tính đồng đẳng trong thiết lập các liên kết: Khi thiết kế một “Giáo án trình chiếu điện tử”, người thiết kế phải đặt rất nhiều liên kết. Để tăng tốc độ hiển thị, kịp với tiến trình dạy-học và không xảy ra các trục trặc kĩ thuật (hoặc không hiện tài liệu liên kết, hoặc hiện ra các danh sách, các hộp thoại đòi hỏi phải lựa chọn hoặc xác định một yêu cầu kĩ thuật nào đó,…), người thiết kế phải tuân thủ nguyên tắc đồng đẳng, nghĩa là tất cả các nội dung liên kết phải được thiết kế cùng cấp, cùng trên một đường link và phải được lưu trong cùng một “ Folder ”. Nhất thiết không được để các tài liệu liên kết ở những địa chỉ khác nhau, trong những ổ đĩa khác nhau.

2.2. Đảm bảo tính đơn giản, nhanh, linh hoạt và chính xác trong thao tác: Do yêu cầu về thời gian và tính tương tác giữa thao tác máy với diễn tiến của hoạt động dạy-học nên tất cả các thiết kế kĩ thuật phải đảm bảo tính tương thích, đơn giản, nhanh, linh hoạt và chính xác, không gây khó khăn cho người sử dụng máy,  không làm gián đoạn hoạt động dạy-học khi chuyển đổi thao tác. Tốt nhất là chuyển thành các thao tác chuột hoặc thao tác trên các phím mũi tên của bàn phím (thao tác chuyển đổi giữa các Slide, đưa các nội dung liên kết, thay thế, lựa chọn, ẩn, trở lại, …) .

  ----ef----

III.              QUY TRÌNH THIẾT KẾ:

1. CÁC BƯỚC THIẾT KẾ:

Bước 1: Xác định đặc điểm bài học-các yếu tố trình chiếu

- Xác định kết cấu bài học, bài có bao nhiêu đơn vị kiến thức, thuộc những lĩnh vực nào, đặc điểm của từng đơn vị kiến thức, quan hệ giữa các đơn vị kiến thức.

- Xác định đặc điểm các phương pháp bộ môn được vận dụng để dạy-học .

- Xác định các tư liệu tích hợp, đặc điểm của các tư liệu (thuộc cả ba kênh:chữ/hình/tiếng). 

Bước 2: Xác định cấu hình của giáo án: 

-   Giao diện của Slide truy nhập (Slide chủ).

-   Các trang liên kết và liên kết

-   Giao diện các trang liên kết

-    Bài học (Số + tiết +  tên bài học )

-    Đặc điểm bài học (kết cấu, các đơn vị kiến thức, ….. )

-    Mục đích yêu cầu (mục tiêu bài học)

-    Công việc chuẩn bị ( giáo viên / học sinh )

-    Các bước lên lớp

Bước 3: Thiết kế theo cấu hình

1. Những chuẩn bị cần thiết:  Máy: Có cài đặt Microsoft Office PowerPoint 2003,  phần mềm quản lí mô hình trí tuệ” (Mindjet MindManager), phần mềm quay phim màn hình (CamStudio), Violet,… Nếu muốn kết hợp cả kênh tiếng và kênh hình cần cài đặt thêm Sound Forge 8.0, một mi-crô phù hợp với máy, bổ sung thêm tranh ảnh cần thiết vào Mypictures hoặc cài thêm ClickArt Parties an Entertainment.

2. Các thao tác trên máy (20 thao tác cơ bản):

Thao tác 1 (Khởi động chương trình):  ( Star"Programs"Microsoft office"Microsoft Office PowerPoint 2003). Nếu trên Desktop có sẵn biểu tượng của chương trình thì có thể hoặc kích đúp chuột (click doubl) hoặc bấm phím chuột phải, chọn “Opel

-      Thao tác 2 ( Hiện các thanh công cụ ): Vào View-Toolbars nhập dấu kiểm vào các Check box ( þ ) để hiện các thanh công cụ: Formatting (định dạng các hiển thị) Drawing (các tính năng đồ họa), Picture (vẽ), Control Toolbux   (bộ công cụ điều chỉnh),….

-      Thao tác 3 ( Thiết lập giao diện: Để tiện cho việc thực hiện các thao tác thiết kế, sau khi khởi động chương trình PowerPoint, nếu máy chưa có thanh công cụ Task Pane hãy thực hiện lệnh sau: View"Task Pane (Ctrl+F1) sẽ thấy  hiện thanh công cụ Task Pane, bấm chuột trái vào phím 6 trên thanh này, bạn có thể chọn các loại trang thiết kế phù hợp với yêu cầu:                                                             

- Slide layout: Dùng để chọn kiểu bố trí xếp đặt các nội dung trình chiếu trong một trang (Slide) C Blank – trang trắng, tự bố trí theo ý muốn.  Title Only- chỉ có tiêu đề, Title Slide - một tiêu đề và một phụ đề, Title and text – tiêu đề và cửa sổ text, Title and content – tiêu đề và các hộp hỗ trợ,….

- Slide Design: Kiểu trình bầy trang nền (bố cục, phối mầu, hình nền,…).

- Slide Design-Color Schemes:  Thay đổi kiểu phối mầu cho trang nền

Thao tác 4 ( Chọn kiểu trang trình chiếu (Slide layout) – Căn cứ vào nội dung trình chiếu, chọn 1 trong các trang mặc định C Blank – trang trắng, tự bố trí theo ý muốn. Title Only- chỉ có tiêu đề, Title Slide - một tiêu đề và một phụ đề, Title and text – tiêu đề và cửa sổ text, Title and content – tiêu đề và các hộp hỗ trợ,….                           

Thao tác 5 ( Chọn kiểu xuất hiện của trang trình chiếu (Slide Transition):

Sau đây là một vài kiểu xuất hiện để tham khảo:

- No transition C không thay đổi trạng thái,  Blinds Horizontal C chuyển dòng màu đen theo hướng ngang (từ trên xuống dưới ),  Shape circle C lan hình sóng tròn,  Shape diamond C lan sóng hình thoi.

Thao tác 6  (Thiết lập các mặc định tùy biến  Font, Background, AutoShapes,..):

- Font:   Font mặc định của PowerPoint  là “Arial - 18 ”, có thể giữ nguyên mặc định này song để trình chiếu được rõ nét và đẹp hơn nên mặc định thành font Times New Roman – Bold -28.

Thao tác: Format – Replace fonts, trên hộp thoại Replace fonts chọn: With: Times New Roman – Replace – Close.

Thao tác: Format – font.... trong hộp thoại Fonts chọn: Times New Roman–Bold-28 – Ok.

- Background (nền thứ cấp): Nếu không muốn chọn các nền mặc định của các Slide, có thể chọn chế độ nền thứ cấp Background. Thao tác: Nhấn chuột phải - Chọn Background. Trong hộp thoại Background chọn “More colors” hoặc “Fill Effects”. Nếu chọn “Fill Effects” hãy nhấn chuột vào các tab (Gradient/ Texture/ Patern/Picture) trên đỉnh hộp thoại Fill Effects để chọn các nền thứ cấp theo ý muốn.

-    AutoShape (khung định dạng): Thông thường, các Text Box được mặc định sẵn của các Slide chỉ phù hợp với các nội dung Text ngắn gọn. Với các nội dung dạy-học Ngữ-Văn cần được mặc định lại và vì thế cần có các khung định dạng trước khi đặt các Text Box.

-    Thao tác: Slide layout - Chọn “ Blank” -  Trên thanh công cụ Drawing ( đáy màn hình), chọn AutoShapes  -Flowchart - Chọn khung định dạng thích hợp. Lúc này chuột sẽ có hình chữ thập (+), đặt chuột góc trái trên Slide, kéo chuột theo đường chéo xuống góc phải dưới của Slide - Nhả chuột (Kéo-Thả).

-    Nhấn chuột phải trên AutoShape, chọn: Format AutoShape hiện hộp thoại.

-  Trong hộp thoại Format AutoShape chọn cửa sổ “Color”, nhấn chuột trái vào thanh trượt, chọn Fill mầu trắng .

-    Muốn tạo các nhãn bằng các AutoShape : Nhấn chuột phải trên AutoShape, chọn Add Text - Nhập từ hoặc cụm từ cần nhập .

Thao tác 7   ( Mở Text Box từ thanh công cụ Drawing- Nhập ngữ liệu) :

-    Thông thường, với những nội dung Text ngắn thì có thể nhập trực tiếp trên các AutoShape bằng lệnh Add Tex nhưng với những nội dung Text dài thì không nên vì các dòng text sẽ tràn ra ngoài khung định dạng còn nếu không muốn bị tràn thì buộc hết mỗi dòng lại phải “ Enter ” một lần. Tốt nhất, nên dán một “Text Box ” trên AutoShape bằng cách nhấp chuột vào biểu tượng trên thanh công cụ Drawing, giữ và đặt chuột từ góc trái trên của khung định dạng AutoShape hoặc trực tiếp trên nền Slide rồi kéo xuống góc dưới phải ,nhả chuột (Kéo-Thả) và nhập các dòng Text .

Thao tác 8  ( Tạo , copy, dán các Text Box từ  Control Toolbox ) :

-    Trên thanh công cụ Control Toolbox chọn Text Box () – Dùng thao tác chuột Kéo-Thả tạo một Text Box trên Slide.

-    Nhấn chuột phải trên Text Box – Chọn Properties tờ tính chất sẽ mở ra.  

-    Trong tờ tính chất Properties hãy thiết lập các tính năng: Enter KeyBehavior-True; Font – Times New Roman – Bold 28; Multiline – True; ScrollBars – 3fmScrollBarsBoth.

-    Sau khi đóng tờ tính chất  Properties  ta sẽ có một Text Box cho phép nhập Text Nếu muốn có nhiều Text Box thì dùng lệnh Copy (Ctrl +C) dán ( Ctrl + Paste) và sắp xếp các  Text Box vào vị trí thích hợp trên Slide.                                                              

Thao tác 9 ( Tạo các trang (Page) bằng Microsoft Forms 2.0 MultiPage) :

Thao tác: - Chọn biểu tượng More Controls (hình búa và cờ lê) trên thanh công cụ Control Toolbox, trên danh sách thả chọn Microsoft Forms 2.0 MultiPage.

-    Dùng thao tác chuột Kéo - Thả tạo một MultiPage trên Slide

-    Chuột phải trên MultiPage - Chọn MultiPage Object – Edit.

-    Chuột phải trên Page 1- Trên danh sách thả chọn Rename .

-    Trên hộp thoại Rename nhập tên truy nhập và phụ đề cho trang 1( Page 1 )   + Ok                      

-    Chuột phải trên Page 2 - Trên danh sách thả chọn Insert để bổ sung thêm một Page 3. Lặp lại thao tác để bổ sung cho đủ số trang (Page) cần thiết.

-    Chuột phải trên Page 2 - Trên danh sách thả chọn Rename - Trên hộp thoại Rename nhập tên truy nhập và phụ đề cho trang 2 (Page 2 ), lặp lại thao tác nhập tên truy nhập và phụ đề cho các trang còn lại.

- Thay đổi trật tự sắp xếp các Page: Chuột phải trên MultiPage - Chọn Properties -  TabOrientation (TabOrientation Top/TabOrientation Bottom/ TabOrientation Left/ TabOrientation Right)

Thao tác 10  ( Tạo, copy, dán các Text Box trên các MultiPage):

-    Chuột phải trên MultiPage - Trên danh sách thả chọn Toolbox

-    Trên hộp thoại Toolbox…chọn Text Box

-    Thao tác chuột, Kéo-thả, tạo một Text Box trên trang truy nhập 1 (Page 1).

-    Chuột phải trên hộp Text Box - Chọn Propertier - Thiết lập các mặc định Enter KeyBehavior-True; Font – Times New Roman – Bold 28; Multiline – True; ScrollBars – 3fmScrollBarsBoth - Close.

-    Chọn Text Box đã xác lập các mặc định – Copy (Ctrl +C ) - Chọn lần lượt các trang (Page) và dán (Paste) các Text Box (Ctrl +V).

-    Nhập các nội dung Text vào các Text Box như ở thao tác7.

Thao tác 11   ( Tạo , copy, dán các nút lệnh  bằng Command Button) :

- Trên thanh công cụ Control Toolbox chọn Command Button; dùng thao tác chuột Kéo-Thả, tạo một Button trên Slide hoặc page.

- Chuột phải trên Button - Command Button-Object-Edit- Nhập từ hoặc cụm từ cần nhập.

- Chọn Button, Copy (Ctrl +C) dán ( Ctrl + Paste)

Thao tác 12  ( Tạo, copy, dán các trang Microsoft PowerPoint  Presentation ):

+) Liên kết này có tác dụng giống như mở thêm một Slide nhưng có thể đặt dưới dạng biểu tượng hoặc thu nhỏ như một nút liên kết và khi trình chiếu ở chế độ “Slide Show ” thì chỉ cần Click chuột vào biểu tượng hoặc Slide thu nhỏ này, trang tư liệu sẽ được mở ra và chỉ cần Click chuột lần thứ 2 tại bất kì vị trí nào, trang trình chiếu lại trở về với trang chủ.

+) Để thiết lập liên kết này, thao tác như sau:

-    Chọn lệnh: Insert–Object – Create new - Microsoft PowerPoint  Presentation + OK.

-    Nhấn chuột trái trên trang  Object Microsoft PowerPoint  Presentation đang mở để tắt chế độ Edit

-    Nhấn chuột phải trên trang Microsoft PowerPoint  Presentation – Opel. Trang “Microsoft PowerPoint  Presentation ” mở ra và thiết kế như với một Slide bình thường.

-    Thiết kế xong không cần Seve mà có thể Close ngay để trở về Slide chủ.

-    Nếu muốn tạo biểu tượng cho trang thì thao tác: Nhấn chuột phải trên trang Microsoft PowerPoint Presentation đang mở - Chọn Presentation ObjectConvert. Trên hộp thoại Convert chọn Microsoft PowerPoint  Presentation, đánh dấu kiểm (þ) vào Display as icon - Chọn Tab Change Icon - Chọn biểu tượng – Xóa dòng chữ Microsoft PowerPoint  Presentation hoặc nhập thay thế bằng một từ hay cụm từ tại cửa sổ Caption – Ok                                                                                

- Cần bao nhiêu trang Microsoft PowerPoint  Presentation liên kết thì dùng lệnh Copy (Ctrl +C) dán ( Ctrl + Paste) và sắp xếp các biểu tượng (Icon) vào vị trí thích hợp trên Slide.

Thao tác 13 ( Tạo các hiệu ứng(Add Effect) tương thích với nội dung và thao tác dạy-học cho các đối tượng trên giao diện ):

-    Các hiệu ứng động: Phải xác định rõ đặc điểm của phương pháp dạy-học đang được vận dụng, của đối tượng dạy-học (tiêu đề, ngữ liệu, hình ảnh,…) cần tạo hiệu ứng để chọn một hiệu ứng thích hợp nhất. Để chọn hiệu ứng, thực hiện lệnh và thao tác sau:

-    Chọn đối tượng - Nhấn chuột phải - Chọn Custom Animation                                                                                 

- Chọn các tính năng trong danh sách thả

Thao tác 14  ( Tạo liên kết với một trang Word): Trong trường hợp tư liệu cần liên kết là một tư liệu dài, gồm nhiều trang không thể nhập trên một Slide thì nên để tư liệu ở dạng trang Word, sau đó đặt một nút liên kết trên Slide. Khi trình chiếu, để trang Word liên kết ở chế độ Web Layout và tăng co chữ lên co từ 36 đến 48, tùy theo lớp đông hay ít người học. Để ở chế độ này có thể cuộn liên tục để người học theo dõi. Cũng có thể để ở chế độ Print Layout nhưng phải để ở trạng thái toàn màn hình (Full Screen ) và co chữ 28-36.

Thao tác: C Tạo nút liên kết - chọn - nhấn chuột phải, trên danh sách thả chọn Hyperlink, trong cửa sổ thư mục chọn File Word cần liên kết + OK.

Thao tác 15  (Chèn/dán/nhóm các đối tượngtrên Slide):

+) Chèn, dán các kí tự (Text) thao tác giống như trên Word.

+) Chèn, dán các hình ảnh phải dùng tính năng Insert :

-    Insert Picture bằng công cụ Drawing

-    Insert - Movies and Sounds- Movies From File

-    Insert-Symbol-Wingdings

-    Tạo hình ảnh bằng Paint  - Seve vào My Pictures  để Insert 

-    Có thể nhập ảnh/tranh bằng Microsoft Forms 2.0 Image :

Chọn biểu tượng Image trên thanh công cụ Control Toolbox – Dùng thao tác chuột Kéo - Thả  tạo khung định dạng trên Slide - Chuột phải - Chọn Propeties - Chọn Picture. Trên cửa sổ Look in của hộp thoại Load Picture chọn My Pictures - Chọn ảnh– Open.

Thao tác 16 ( Nhập chữ nghệ thuât –Insert WordArt):

- Trên thanh công cụ Drawing, chọn “ Insert WordArt ” - Chọn và nhập kiểu chữ thích hợp (Để thay đổi được nhiều kiểu chữ đẹp, thich hợp nên đổi mã Font trong Viet key sang bảng mã TCVN3).

Thao tác 17 ( Nhóm các đối tượng trên Slide):

-    Với các đối tượng cùng nhóm, để tránh bị xô lệch vị trí không theo ý muốn cần liên kết lại theo nhóm: Chọn các đối tượng (Nhấn Shift + Nhấn chuột trái hoặc chọn theo vùng bằng cách kéo chuột) - Nhấn chuột phải- Chọn Grouping – Group

Thao tác 18 ( Tạo hiệu ứng ẩn hiện và đổi mầu cho một Text Box hoặc một AutoShape ): Hiệu ứng này sử dụng khi muốn ẩn nội dung Text trong các phương án lựa chọn và hiện các nội dung này khi được lựa chọn bằng cách nhấp chuột vào Text Box hoặc AutoShape:

- Tạo các Text Box hoặc AutoShape

- Nhập số thứ tự hoặc kí hiệu của phương án lựa chọn

- Nhập text - Đổi mầu Text cùng với mầu Fill của Text Box hoặc AutoShape

- Chọn Text Box hoặc AutoShape

- Nhấn chuột phải, trên danh sách thả chọn Action Settings.

- Trong hộp thoại đánh dấu kiểm (þ) vào Highlight click

Thao tác 19 (Tạo Windows Media Player ):

-    Chọn lệnh Insert - Object…- Chọn Windows Media Player – OK

Chuột phải trên thanh công cụ - Chọn Propertier - Chọn Custom – Browse - Chọn nhạc hoặc File ghi âm + Ok.

- Thu nhỏ thanh công cụ Windows Media Player , đặt vào vị trí thích hợp trên Slide.

Thao tác 20 ( Tạo Slide chủ (Trang truy nhập ): Do đặc điểm môn học, khi thiết kế “Giáo án trình chiếu ” cho mỗi bài học dù thuộc phân môn Văn, Ngữ hay Làm văn, người thiết kế đều phải đặt rất nhiều liên kết với các tư liệu thuộc cả 3 kênh (chữ/hình/tiếng) và nhiều lĩnh vực.

+)  Để thao tác truy cập các liên kết được nhanh, chính xác, đơn giản, khi thiết kế nên tạo một Slide chủ (trang truy nhập) trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc đồng đẳng. Giao diện của trang truy nhập này như thế nào là tùy thuộc vào đặc điểm của bài học, của yêu cầu liên kết, và ý đồ của người thiết kế. Tuy nhiên, vẫn có thể đưa ra một số yêu cầu chung như sau:

- Gây được ấn tượng về bài học, mang đặc trưng bộ môn

- Không gây nhầm lẫn khi truy cập các liên kết

- Từ trang truy nhập có thể đến bất cứ trang liên kết nào và ngược lại, từ bất cứ trang liên kết nào cũng trở lại trang truy nhập chỉ bằng 1/2 thao tác.

 

CÁC BÀI TẬP THỰC HÀNH

----ef----

TIẾNG VIỆT:

Thực hành 1: Mở chương trình, nhập địa chỉ, lưu giáo án trình chiếu:

Bước 1:

1.                      My Computer (click double) hoặc (chuột phải-Open )

1.                      Chọn ổ  D hoặc C (Click double hoặc chuột phải-Open )

1.                      Trên File and Folder tasks  chọn  Make a new Folder

1.                      Nhập tên cho Folder mới: Chuột phải trên New Folder - Rename - Nhập tên của Folder:  TAP GIAO AN.

1.                      Chọn Folder TAP GIAO AN. Trên File and Folder tasks chọn  Make a new Folder. Nhập tên: TIENG VIET cho Folder mới – Close (Alt +F4 ).

Bước 2:

1.      My Computer (click double) hoặc (chuột phải-Open )

2.      Chọn ổ  D (hoặc C) -TAP GIAO AN- TIENG VIET. Trên File and Folder tasks chọn  Make a new Folder. Chọn - Chuột phải trên Folder mới - Rename - Nhập tên : BAI .

3.      Chọn Folder BAI - Trên File and Folder tasks chọn  Make a new Folder - Chuột phải trên Folder mới – Rename - Nhập tên: LOI CAU - Close (Alt +F4 ).

4.      Khởi động chương trình PowerPoint

5.      Lưu File, đặt tên, nhập địa chỉ: Chọn File-Save (hoặc Ctrl + S ). Trên  hộp thoại Save as trong cửa sổ Save in chọn: D- TAP GIAO AN- TIENG VIET- BAI - LOI CAU. Trong cửa sổ File name thay tên Presentation 1.ppt bằng tên BAI 9.ppt  - Chọn  Save để xác nhận.

6.      Đóng chương trình: Close (Alt +F4 ).

Thực hành 2: 

1. Yêu cầu : Cho giáo án bài “ LỖI VIẾT CÂU ” (Xem phần phụ lục)

1.1. Xác định các thành tố trình chiếu:

+) Đặc điểm (chữ/hình/âm)

+) Phương pháp và thao tác dạy-học (phương pháp bộ môn)

+) Thao tác trình chiếu tương thích (máy)

+) Kiểu loại trang liên kết (Slide/Word/…)

1.2. Xác lập cấu hình cho giáo án trình chiếu

2. Các bước và thao tác thực hiện:

2.1.. Xác định các thành tố sẽ trình chiếu và đặc điểm:

-     Các thành tố trình chiếu của bài gồm :

+) BÀI 9 / LỖI VIẾT CÂU -(in hoa - thông báo-giải thích - tĩnh/mầu đậm– thuộc trang tuy nhập)

+) Tên các đơn vị kiến thức -( in thường Font Times New Roman co 28  - thông báo-giải thích – (động, xuất hiện đồng thời theo trình tự thông báo-giải thích/mầu đậm – thao tác bằng chuột hoặc phím mũi tên - thuộc trang liên kết PowerPoint  Presentation ).

+) Mục tiêu bài học (nhận thức/kĩ năng/giáo dục) - (in thường, Font Times New Roman co 28 - thông báo-giải thích – động, xuất hiện đồng thời theo trình tự thông báo-giải thích/mầu đậm – thao tác bằng chuột hoặc phím mũi tên – thuộc trang liên kết PowerPoint  Presentation ).

+) Củng cố, hệ thống hóa về câu đúng (in thường, Font Times New Roman co 28 + Graph - phát vấn đàm thoại ( câu hỏi và đáp án) - động, xuất hiện đồng thời theo trình tự đàm thoại/mầu đậm – thao tác bằng chuột hoặc phím mũi tên -thuộc trang liên kết Word hoặc PowerPoint  Presentation ).

+) Bài tập thực hành 1 /Bài tập thực hành 2 / Bài tập thực hành 3/Bài tập thực hành 4/ Bài tập thực hành 5  ( in thường, Font Times New Roman co 28 - phát vấn đàm thoại ( câu hỏi và đáp án)- động, xuất hiện đồng thời theo trình tự đàm thoại/mầu đậm – thao tác bằng chuột hoặc phím mũi tên – thuộc trang liên kết là một Slide / Word hoặc trang PowerPoint  Presentation ).

+) Củng cố (in thường, Font Times New Roman co 28  +Graph – phát vấn + thông báo thuyết minh – động, xuất hiện đồng thời theo trình tự đàm thoại/mầu đậm – thao tác bằng chuột hoặc phím mũi tên – thuộc một Slide liên kết hoặc một trang liên kết PowerPoint  Presentation ).

2.2.  Xác lập cấu hình bằng công cụ Organization Chart :

-    Trên thanh công cụ Drawing - chọn Insert Diagram or Organization Chart -chọn  Shape  Insert (hình 1).

-    Trên thanh công cụ Organization Chart - chọn Layout - chọn Right Hanging.

+) Tại vị trí Click to add text nhập Text:

-    Shape thứ nhất: Trang truy nhập .

-    Shape thứ 2: Các đơn vị kiến thức.

-    Shape thứ 3: Mục đích yêu cầu.

-    Shape thứ 4: Hệ thống hóa câu đúng.

+) Chọn Shape thứ nhất:

-    Trên thanh công cụ Organization Chart chọn Insert Shape -Subordinate bổ sung một Shape.

-    Tại vị trí Click to add text nhập Text: Bài tập thực hành số 1 .

-    Lặp lại thao tác bổ sung Bài tập thực hành số 2/3/4/5 .

+) Chọn Bài tập thực hành số 1

-    Trên thanh công cụ Organization Chart chọn Insert Shape–Assistant bổ sung một Shape

-    Tại vị trí Click to add text nhập Text: Ngữ liệu.

-    Lặp lại thao tác để bổ sung Shape Câu hỏi và đáp án .

+) Chọn Câu hỏi và đáp án

-    Trên thanh công cụ Organization Chart chọn Insert Shape-Subordinate bổ sung một Shape

-    Tại vị trí Click to add text nhập Text:  Đáp án.

-    Lặp lại thao tác với Bài tập thực hành số2/3/4/5 . ( Hình 4)

Thực hành 3: Thiết kế trang truy nhập cho giáo án  theo cấu hình

1. Mở File “BAI 9.ppt”:

1.1. My Computer – D (hoặc C) - TAP GIAO AN- TIENG VIET- BAI - BAI 9.ppt  (Click double hoặc chuột phải-Open ).

1.2. Tạo nền thứ cấp Background: Chuột phải trên Slede - Chọn Background. Trên hộp thoại Background chọn Fill-Effects. Trên hộp thoại Fill-Effects chọn  Tab Gradient. Trên Colors chọn ¤ Preset . Trên Preset Colors chọn Fog , Shading Styles chọn ¤ Diagonal downOkApply.

2.  Tạo  AutoShape:

 2.1. Trên thanh công cụ “Drawing” - Chọn AutoShapes – Basic  Shapes– Hexagon . Dùng thao tác chuột Kéo-Thả tạo AutoShape hình lục lăng để chuẩn bị nhập Text “BÀI 9 ”

2.2. Trên thanh công cụ “Drawing”- Chọn AutoShapes-Flowchart Alternate process – Dùng thao tác chuột Kéo-Thả tạo AutoShape . Chuột phải, trên danh sách thả chọn Format AutoShape, Trên hộp thoại Format AutoShape – chọn Fill Color mầu trắng để khi nhập Text sẽ bật nổi, dễ đổi mầu cho chữ và các kí hiệu trong Text Box.

2.3. Trên thanh công cụ “Drawing” - Chọn AutoShapes-Flowchart process - Dùng thao tác chuột Kéo-Thả tạo AutoShape. Chuột phải, trên danh sách thả, chọn Format AutoShape, Trên hộp thoại Format AutoShape – chọn Fill Color – Fill Effects, chọn mầu xám.

2.4. Trên thanh công cụ “Drawing”- Chọn AutoShapes-Flowchart Terminator. Dùng thao tác chuột Kéo-Thả tạo AutoShape. Copy (Ctrl + C ), Paste (Ctrl + V ) 6 lần sẽ được 7 Tab AutoShape .

3. Nhập Text cho cácAutoShapes + Chèn hình ảnh :

3.1. Chọn AutoShape-Hexagon (hình lục lăng) - Chuột phải - Trên danh sách thả chọn lệnh add Text  - Nhập Text BÀI 9 .

3.2. Chuột phải trên AutoShape BÀI 9 - Chọn Format AutoShape  Chọn Fill Color mầu nâu sẫm - Chọn Line Color mầu vàng - Chọn Font Color mầu vàng.

3.3. Trên thanh công cụ Drawing - Chọn Insert WordArt  - Chọn một kiểu thích hợp - Nhập LỖI VIẾT CÂU  + OK

3.4. Trên thanh công cụ Drawing - Insert Picture - Chèn 2 hình ảnh phù hợp.

3.5. Chuột phải trên 7 AutoShapes –Terminator  - Chọn add text - Nhập Text: MỤC TIÊU, HỆ THỐNG HÓA, BÀI TẬP 1, BÀI TẬP 2, BÀI TẬP 3, BÀI TẬP 4, BÀI TẬP 5.

3.6. Dùng Thao tác chuột Kéo-Thả, sắp xếp các AutoShapes Picture vào vị trí dự kiến. 4. Nhập Text vào Text box, mặc định chế độ động cho Text:

4.1. Trên thanh công cụ “Drawing”- Chọn Text box. Dùng Thao tác chuột Kéo-Thả tạo một Text box trên nền AutoShapes – Flowchart Alternate process -  Nhập nội dung các đơn vị kiến thức của bài học.

4.2. Chọn Text box - Chuột phải - Custom Animation – add Effect-Entrance-Strips- On click- Right Up - Very Fast  - Chọn Shape 1 - Effect Options. Trên hộp thoại Strips chọn Text Animation – Trên cửa sổ Group text chọn By 1 st level Paragraphs + OK.

5. Tạo trang Microsoft PowerPoint Presentation:

5.1. Insert - Object – Trong hộp thoại Object, trên cửa sổ Object Type chọn Microsoft PowerPoint Presentation + Ok. Nhấn chuột ra ngoài tắt chế độ Edit. 5.2. Chuột phải trên trang Presentation Object - Trên hộp thoại Convert, đánh dấu x vào cửa sổ Display as icon. Chọn Change Icon - Chọn biểu tượng – Tắt dòng chữ Microsoft PowerPoint Presentation trong cửa sổ Caption - OK .

5.3. Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation trên Slide Bài 9 -  Copy ( Ctrl +C ) – Paste (Ctrl +V ) 6 lần (sẽ được 7 biểu tượng ).

5.4. Dùng thao tác chuột Kéo-Thả các biểu tượng vừa tạo vào các vị trí dự kiến trên các AutoShapes: MỤC TIÊU, HỆ THỐNG HÓA, BÀI TẬP 1, BÀI TẬP 2, BÀI TẬP 3, BÀI TẬP 4, BÀI TẬP 5.

+ Đóng chương trình (Alt + F4)

Thực hành 4: Tạo trang liên kết “ MỤC TIÊU ”:

1. Mở File BAI 9:  ( My Computer – D hoặc C - TAP GIAO AN- TIENG VIET- BAI - BAI 9.ppt  ).

2.  Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation trên AutoShapes MỤC TIÊU  - Chuột phải - Open .

3. Lệnh Format - Replace Fonts – Trên cửa sổ With của  hộp thoại Replace Fonts chọn Times New Roman - Chọn  Replace + Close

4. Lệnh Format -  Font- Times New Roman / Bold /28

5. Đặt nền (Fill), thiết kế giao diện trang PowerPoint  Presentation như với một Slide thông thường:

5.1. Trên thanh công cụ Drawing: Chọn biểu tượng Text Box - Dùng thao tác chuột Kéo-Thả tạo một Text Box trên trang PowerPoint  Presentation - Nhập nội dung mục tiêu bài học.

5.2. Chọn Text Box đã nhập nội dung mục tiêu bài học - Chuột phải - Custom Animation – add Effect-Entrance - Wipe- On click- From Left - Very Fast - Chọn Shape 1 - Effect Options. Trên hộp thoại Wipe chọn Text Animation – Trên cửa sổ Group text chọn By 1 st level Paragraphs + OK.

5.3. Đóng trang  MỤC TIÊU(Close ), trở về trang Truy nhập.                 

6. Mở chế độ Slide Show (F5) - Trỏ chuột vào biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation trên MỤC TIÊU,  chuột sẽ có hình bàn tay - Click chuột trái và trình chiếu. Kết thúc các nội dung trình chiếu, Click chuột một lần trở về trang truy nhập – ESC trở về chế độ Normal View - Close.

Thực hành 5:  Tạo trang  HỆ THỐNG HÓA:

1. Mở File BAI 9: Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation trên HỆ THỐNG HÓA - Chuột phải - Presentation ObjectOpen.

2. Trên thanh công cụ Drawing: Chọn biểu tượng Text Box - Dùng thao tác chuột Kéo-Thả tạo một Text Box - Nhập nội dung hệ thống hóa về câu đúng.

3. Chọn Text Box (đã nhập nội dung) - Chuột phải - Custom Animation – add Effect-Entrance-Strips- On click- Right Up - Very Fast - Chọn Shape 1, - Effect Options, trên hộp thoại Strips chọn Text Animation –Trên cửa sổ Group text chọn By 1 st level Paragraphs + OK. 

4. Đóng trang HỆ THỐNG HÓA (Close ) để trở về trang Truy nhập.

5. Mở chế độ Slide Show (F5) - Trỏ chuột vào biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation trên HỆ THỐNG HÓA ,  chuột sẽ có hình bàn tay, Click chuột trái và trình chiếu. Kết thúc các nội dung trình chiếu, Click chuột một lần trở về trang truy nhập.

Chú ý: Có thể bổ sung thêm các Graph hệ thống hóa về câu (phân loại theo cấu tạo và câu phân loại theo mục đích nói ) bằng 2 công cụ:

1.                      Công cụ “Organization Chart : Cách làm như khi xác lập cấu hình của giáo án trình chiếu.

2.                      Công cụ Mindjet MindManager: Cách làm như khi xác lập cấu hình của giáo án trình chiếu. Sau khi tạo xong thực hiện lệnh Seve và phai này sẽ được lưu trong  My Documents \ My Maps với tên là “MIND. GRAPH.mmap ”.

3.                      Đặt nút liên kết trên trang HỆ THỐNG HÓA: Tạo một AutoShape - Chuột phải - Add Text  GRAPH  - Chuột phải trên GRAPH - Hyperlink. Trên hộp thoại Insert Hyperlink chọn My Documents-My Maps- MIND. GRAPH.mmap + OK.

4.                      Mở chế độ Slide Show (F5) của trang HỆ THỐNG HÓA để duyệt thử. Trỏ chuột vào  GRAPH   . Nếu thấy chuột có hình bàn tay () hãy nhấn chuột trái để duyệt.

Thực hành 6 :  Tạo trang BÀI TẬP 1:

1. Tạo trang truy nhập cho “ BÀI TẬP 1:

1.1. Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation  trên “BÀI TẬP 1” - Chuột phải - Presentation ObjectOpen.

1.2. Tạo AutoShape trên góc trái Slide - Chuột phải - Add Text BÀI TẬP THỰC HÀNH SỐ 1 ( Có thể dùng lệnh Format AutoShape  để mặc định Fill, Lind cho phù hợp với nền Background ).

1.3. Trên thanh công cụ Drawing: Chọn AutoShapes-Flowchart-Alternate Process- Dùng thao tác chuột Kéo-Thả, tạo một AutoShape. Copy (Ctrl + C ), Paste (Ctrl + V ) 5 lần sẽ được 6  AutoShape.

1.4. Dùng thao tác chuột, Kéo-Thả các AutoShape vào vị trí dự kiến - Lần lượt  Add Text  vào các AutoShape : Ngữ liệu, Câu hỏi và đáp án, Câu hỏi Œ, Câu hỏi v, Câu hỏi w, Câu hỏi x . (Có thể Insert các Picture sao cho phù hợp với nội dung để trang trí)

1.5. Mở và tạo biểu tượng cho trang Microsoft PowerPoint Presentation  (như cách làm ở trên), Copy, Paste (Ctrl + V) 4 lần sẽ được 5 trang PowerPoint  Presentation. Dùng thao tác chuột, Kéo-Thả các biểu tượng vào vị trí dự kiến để nhập ngữ liệu, và nội dung các câu hỏi

2. Tạo trang nhập ngữ liệu cho BÀI TẬP 1:

2.1. Trên trang truy nhập: Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation dưới “NGỮ LIỆU ” - Chuột phải -  Presentation ObjectOpen.

2.2.                    Tạo AutoShape - Chuột phải - Add Text  “ NGỮ LIỆU 1 ”(tiêu đề ); Tạo Text Box - Nhập Text (Nội dung  ngữ liệu )

2.3.                    Có thể  Insert Picture phù hợp với ngữ liệu để tăng tính sinh động cho giao diện .

3. Tạo trang nhập câu hỏi cho BÀI TẬP 1:

3.1. Trên trang truy nhập: Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation cạnh  “ CÂU HỎI Œ” - Chuột phải -  Presentation ObjectOpen.

3.2. Tạo AutoShape  - Chuột phải - Add Text  “ CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN ” (tiêu đề ) - Tạo Text Box - Nhập Text (Nội dung  câu hỏi ).

3.3. Tạo 2 AutoShape -  Chuột phải - Add Text “ GỢI MỞ ”

3.4. Mở, tạo biểu tượng 2 trang Microsoft PowerPoint Presentation để chuẩn bị nhập nội dung gợi mở .

4.  Tạo trang gợi mở cho trang CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN :

4.1. Trên trang CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN: Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation cạnh “ GỢI MỞ  Œ” - Chuột phải - Presentation ObjectOpen.

4.2. Tạo các  Text Box - Nhập  Text (Nội dung các câu hỏi và nội dung gợi mở, nội dung  các đáp án ).

4.3. Tạo 3 AutoShape - Chuột phải  - Add Text : “GỢI MỞ 1”, “THẢO LUẬN 1”,  “THẢO LUẬN 2 ”.

4.4. Mở và tạo biểu tượng cho 2 trang Microsoft PowerPoint Presentation - dùng thao tác chuột, Kéo-Thả biểu tượng các trang Microsoft PowerPoint Presentation vào vị trí cạnh “THẢO LUẬN 1”,  “THẢO LUẬN 2 ”.

4.5. Chọn các Text Box đã nhập nội dung gợi mở và đáp án - Chuột phải– Custom Animation –Add Effect – Entrance - Chọn các chế độ xuất hiện động phù hợp với trình tự và thao tác dạy học (TD: Wipe- On click- From Left – Very Fast ” ).

4.6. Nhấn phím Shift + Chọn các AutoShape  “THẢO LUẬN 1”,  “THẢO LUẬN 2 ” + Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation cạnh “THẢO LUẬN 1”,  “THẢO LUẬN 2 ” - Chuột phải– Custom Animation –Add Effect – Entrance - Chọn các chế độ xuất hiện động phù hợp với trình tự và thao tác dạy học ( TD: Zoom - On click-).

5. Tạo trang thảo luận cho trang “Gợi mở ):

5.1.Trên trang “GỢI MỞ 1”: Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation cạnh  “THẢO LUẬN 1” – Chuột phải – Presentation ObjectOpen.

5.2. Tạo AutoShape - Chuột phải – Add Text “THẢO LUẬN 1”  (Tiêu đề)

5.3. Chèn hộp thoại Text Box: Trên thanh công cụ Control Toolbox chọn Text Box () – Thao tác chuột Kéo-Thả tạo Text Box - Chuột phải – Properties .

- Trong tờ tính chất Properties thiết lập các tính năng: Enter KeyBehavior-True; Font – Times New Roman – Bold 28; Multiline – True; ScrollBars – 3fmScrollBarsBoth.

5.4. Sau khi hoàn thành các thao tác này, ta sẽ được một trang đàm thoại, giáo viên có thể nhập ý kiến thảo luận của học sinh vào hộp thoại Text Box trong khi đang trình chiếu

6. Tạo các trang NGỮ LIÊU/GỢI MỞ/THẢO LUẬN khác (2/3/4/…):

(Cách làm: Lặp lại các thao tác kĩ thuật như trên nhưng phải căn cứ vào nội dung cụ thể của từng yếu tố tham gia vào giao diện để sắp xếp trật tự và trình tự xuất hiện cùng các chế độ động tương thích )

7. Trình chiếu thử và hiệu chỉnh:

-       Đóng chương trình (Close)

-       Mở File “ BAI 9.ppt ”- Duyệt thử-hiệu chỉnh.

-       Trình chiếu - Hiệu chỉnh theo thao tác dạy-học.

  

----ef----

 BÀI TẬP THỰC HÀNH 2

VĂN HỌC:

THỰC HÀNH 1: Mở chương trình, nhập địa chỉ, lưu giáo án :

1.          My Computer – D (hoặc C ) – TAP GIAO AN – VAN HOC – BAI .

2.          Chọn Folder BAI - Trên File and Folder tasks chọn  Make a new Folder - Chuột phải trên Folder mới – Rename - Nhập tên: DONG CHI - Close (Alt +F4)

3.          Khởi động  PowerPoint

4.          Lưu File, đặt tên, nhập địa chỉ: File-Save (Ctrl + S ). Trên  hộp thoại Save as trong cửa sổ Save in chọn:  D (hoặc C)- TAP GIAO AN - VAN HOC – BAI - DONG CHI. Trong cửa sổ File name thay “Presentation 1.ppt” bằng “BAI 10A.ppt”- Save - Close .

5.          Dùng thao tác chuột, Kéo-Thả biểu tượng các File ghi âm đọc diễn cảm, nhạc nền (…Wav), tranh ảnh minh họa (nếu có) vào cùng Folder DONG CHI (Có thể Copy–Paste ).

THỰC HÀNH 2: 

1. Yêu cầu: Cho bài thơ “ ĐỒNG CHÍ ” (Xem phụ lục), hãy:

1.1. Soạn giáo án - Chuyển thành giáo án trình chiếu

1.2. Xác định các thành tố sẽ trình chiếu ( Đặc điểm (chữ/hình/âm)/ Phương pháp và thao tác dạy-học (phương pháp bộ môn) / Thao tác trình chiếu tương thích (máy) / Kiểu loại trang liên kết (Slide/Word/…).

1.3. Xác lập cấu hình cho giáo án trình chiếu).

2. Các bước và thao tác thực hiện:

2.1. Xác định các thành tố trình chiếu và đặc điểm:

-      Giáo án gồm các thành tố:

MỤC TIÊU BÀI HỌC

TÁC GIẢ TÁC PHẨM

CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO

KẾT CẤU TÁC PHẨM

VĂN BẢN

CÂU HỎI PHÁT VẤN VÀ GỢI MỞ

CÁC NỘI DUNG PHÂN TÍCH ĐÀM THOẠI

CÁC ĐÁP ÁN

ẢNH TÁC GIẢ VÀ ẢNH NỀN

GHI ÂM ĐỌC DIỄN CẢM VÀ NHẠC NỀN

+) Tên các nội dung truy nhập : 14 Command Button nhập Text

+) Các trang trình chiếu: 1 Slide truy nhập, 21 trang liên kết PowerPoint Presentation (biểu tượng ):

Trang Mục tiêu: (nhận thức/kĩ năng/giáo dục) / Trang tác giả / Trang cảm hứng chủ đạo / Trang kết cấu / Trang tổng kết : Microsoft PowerPoint Presentation  (in thường - thông báo-giải thích – động, xuất hiện đồng thời theo trình tự thông báo-giải thích / mầu đậm – dùng chuột hoặc phím mũi tên) .

Trang câu hỏi: 5 trang Microsoft PowerPoint Presentation (in thường - Phát vấn + Thông báo giải thích-động, xuất hiện đồng thời theo trình tự phát vấn gợi mở).

Trang phân tích: 5 trang Microsoft PowerPoint Presentation – kết hợp với Text BoxScroll Bar (in thường - động, xuất hiện đồng thời theo trình tự đàm thoại – dùng chuột hoặc phím mũi tên).

Trang đáp án: 5 trang Microsoft PowerPoint Presentation ( in thường - Thông báo giải thích - động, xuất hiện đồng thời theo trình tự thông báo giải thích – dùng chuột hoặc phím mũi tên).

+) Kênh âm thanh : 1 File nhạc, 6 file ghi âm (giới thiệu tác giả tác phẩm, đọc diễn cảm - Sử dụng 2 thanh công cụ Windows Media Player

+) Kênh hình: Ảnh tác giả 1, ảnh nền 3 (Bitmap Imege - tĩnh)

2.2.  Xác lập cấu hình bằng công cụ Organization Chart : (cách làm như ở Bài tập thực hành 3).

THỰC HÀNH 3: Thiết kế trang truy nhập cho giáo án  theo cấu hình

1. Mở File “BAI 10A.ppt”:  My Computer – D (hoặc C)-  TAP GIAO AN-VAN HOC-BAI – DONG CHÍ - BAI 10A.ppt  .

2.  Thiết kế:

2.1. Tạo nền Background: Chuột phải – Background – Fill Effects - Picture – Select Picture – (Chọn một ảnh thích hợp trong My Picture- ở đây là ảnh có hình mây trời “CARDMQL 1.JPG” , Insert một Picture - ở đây là ảnh đồi cọ “AOKOO41.bmp”- có thể thêm ảnh 2 chiến sĩ đứng gác, vừng trăng).

2.2. Insert WordArt “ BÀI 10: ĐỒNG CHÍ”- Chuột phải - Custom Animation – add Effect-Entrance-More Effect – Crawl In / With Previous – From Left - Very SlowUntil End of Slide  .

2.3. Tạo 14 Command Button nhập Text:

+) Trên thanh công cụ Toolbar Options: Command Button – Thao tác Kéo- Thả tạo 1 Command Button trên Slide.

+) Copy – Paste (13 lần). Lần lượt Add Text : GIỚI THIỆU TÁC GIẢ / NHẠC NỀN / MỤC TIÊU / TÁC GIẢ / CẢM HỨNG / KẾT CẤU / TỔNG KẾT / CÂU HỎI / 1A / 1B / 2 / 3 / 4 /ĐỌC  (Có thể Kéo- Thả hoặc Chuột phải – Properties để thay đổi kích thước, mầu, Fon, cỡ chữ cho các Command Button).

+) Thao tác chuột, Kéo - Thả các Command Button vào vị trí thích hợp trên Slide.

2.4. Nhập ảnh tác giả:

+) Trên thanh công cụ Toolbar Options: Imege-Thao tác Kéo-Thả tạo 1 hộp rỗng trên Slide

+) Chuột phải – Properties-Picture-My Picture- chọn ảnh + Open – Close.Thao tác chuột, Kéo- Thả ảnh tác giả vào vị trí thích hợp trên Slide.

2.5. Tạo AutoShapes: Tạo thêm 4 AutoShape làm nền cho các Command Button và các biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation, biểu tượng Sound Files

2.6. Tạo trang liên kết Microsoft PowerPoint Presentation:

+) Insert - ObjectMicrosoft PowerPoint Presentation + Ok .

+) Chuột phải- Presentation ObjectConvert – Dấu x cửa sổ Display as icon. Chọn Change Icon - Chọn biểu tượng– Xóa dòng chữ Microsoft PowerPoint Presentation trong cửa sổ Caption – OK - Close .

+) Chọn biểu tượng Microsoft PowerPoint Presentation trên  Slide -  CopyPaste 10 lần (được 11 biểu tượng ). Dùng thao tác chuột, Kéo - Thả các biểu tượng  vào vị trí phía trên và phía bên phải các Command Button đã Add Text .

2.7. Insert Windows Media Player:

+) Lệnh: Insert  - Object Windows Media Player- Ok . Copy-Paste.

+) Trên Windows Media Player1: Chuột phải – Properties – Custom – Browse- Chọn địa chỉ/chọn bản nhạc (ở đây là bài “Tiễn đưa” của Trần Hoàn) – Thu nhỏ, Kéo – Thả vào vị trí thích hợp.

+)  Trên Windows Media Player2: Chuột phải – Properties – Custom – Browse- Chọn địa chỉ/chọnFile ghi âm (ở đây là ghi âm giới thiệu về Chính Hữu) – Thu nhỏ, Kéo – Thả vào vị trí thích hợp.

2.8  Insert Sound From Files:

+) Lệnh: Insert  - Movies And Sounds – Sound From Fiels. Trên hộp thoại Insert Sound chọn File ghi âm đọc diễn cảm – When Clicked + OK. Kéo - Thả biểu tượng (hình loa) vào vị trí thích hợp. (Lặp lại thao tác với các File ghi âm khác).

2.9. Thiết kế và nhập nội dung các trang liên kết Microsoft PowerPoint Presentation :

+) Sử dụng các thao tác cơ bản đã học và thực hành ở các bài tập 1,2,3 để mở-tạo giao diện

+) Nhập các Text Box và nội dung cụ thể trên cơ sở đối chiếu với đặc điểm các trang trình chiếu đã xác định ở mục “2.1” và nội dung giáo án đã soạn

+) Chọn các chế độ “Tĩnh-Động” phù hợp và tương tác với phương pháp, thao tác dạy-học.

3.10. Mở chế độ Slide Show: trình chiếu, duyệt và hiệu chỉnh (Tham khảo đĩa kèm theo giáo trình).

 

 

----ef----


ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC

-----š›-----

Đổi mới phương pháp giáo dục bằng công nghệ thông tin (bao gồm thiết bị kĩ thuật, chương trình phần mềm, v.v…). Từ thập niên 90 của thế kỉ trước, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI. Ngoài ra, UNESCO còn dự báo công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI.

Trước tình hình công nghệ thông tin với giáo dục trên thế giới như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam trong Nghị quyết TW2, khóa VIII đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học”. Nghị quyết TW2, khóa VIII nêu trên đã được cụ thể hóa bằng Chỉ thị 58-CT/TW (17/10/2000) của Bộ Chính trị, nội dung Chỉ thị có đoạn: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội.”

Năm học 2008-2009 được ngành Giáo dục và Đào tạo chọn là năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT. Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt mục tiêu đến tháng 12/2008 sẽ kết nối mạng internet, triển khai mạng giáo dục (www.edu.net.vn) đến tất cả các sở Giáo dục và Đào tạo, cơ bản phủ internet đến các trường học trong cả nước. Ý tưởng xây dựng mạng giáo dục EduNet được hình thành cách đây mười năm và trên thực tế đã bước đầu phát triển dù còn không ít trở ngại. Năm học 2008 – 2009 khi Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) ký văn bản hợp tác với Cục CNTT để triển khai mạng giáo dục đến tất cả các địa bàn trong cả nước với giá dịch vụ  ưu đãi đặc biệt (chỉ bằng một phần tư giá thành, những vùng đặc biệt khó khăn sẽ được dùng miễn phí) sẽ là một cơ hội tạo bước ngoặt cho ngành Giáo dục và Đào tạo. Gần 17 nghìn trường vùng sâu vùng xa cũng sẽ có cơ hội được kết nối internet phục vụ quản lý, học tập và giảng dạy. Cùng với việc phổ cập mạng EduNet, Cục CNTT sẽ triển khai hệ thống thư điện tử (e-mail) miễn phí trong toàn ngành Giáo dục và Đào tạo. 

Các Sở Giáo dục sẽ phối hợp với Cục CNTT và Viettel lên danh sách các cơ sở khó khăn để có chính sách hỗ trợ kết nối internet. Các cơ sở Giáo dục hưởng lợi từ dịch vụ ưu đãi này sẽ bao gồm cả trường mầm non, các trung tâm Giáo dục cộng đồng, trung tâm Giáo dục thường xuyên, các trường dạy nghề, các phòng Giáo dục,… Những khu vực quá khó khăn sẽ được sử dụng công nghệ sóng di động GPRS /EDGE.

Mục tiêu ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo đến năm 2010 là phải xây dựng được “4 chuẩn”:  Thứ nhất, chuẩn trong nhận thức của cán bộ quản lý về lợi ích của ứng dụng CNTT để không còn những câu hỏi đại loại như “Tại sao phải ứng dụng CNTT hay ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo như thế nào ?”... Thứ hai, chuẩn kỹ năng, phải xác định được chuẩn kỹ năng tối thiểu về CNTT. Thứ ba, chuẩn về cơ sở hạ tầng. Thứ tư, chuẩn công cụ dùng để ứng dụng CNTT.

Đối với việc tin học hoá quản lý Giáo dục, Cục CNTT có trách nhiệm tuyển chọn, cung cấp miễn phí các phần mềm quản lý học tập của học sinh, quản lý giáo viên, hỗ trợ sắp xếp thời khoá biểu, quản lý thư viện trường học,… cũng như cung cấp phần mềm E-learning và các phần mềm khác qua một số quỹ chương trình CNTT,…

 Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tổ chức cuộc thi giáo viên ứng dụng CNTT, làm bài giảng điện tử theo công nghệ E-learning nhằm mục đích khuyến khích, động viên giáo viên tiếp cận công nghệ mới cũng như chia sẻ kinh nghiệm. Bộ trưởng sẽ là trưởng ban chỉ đạo, Cục CNTT chủ trì tổ chức, phối hợp với Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý Giáo dục và các dự án. Chủ đề của cuộc thi sẽ là “Mỗi giáo viên góp mỗi năm 1 bài giảng, chúng ta sẽ có 1000.000  bài giảng trong một năm”. Bộ Giáo dục và Đào tạo huy động các sở Giáo dục và Đào tạo, các trường ĐH, CĐ, TCCN cùng tham gia, đóng góp các bài giảng điện tử và sẽ tạo thành một thư viện trên trang web của Bộ để chia sẻ, dùng chung.

Nguy cơ tụt hậu về CNTT của nhiều giáo viên cả già lẫn trẻ rất đáng lo. Vẫn có người còn hiểu ứng dụng CNTT vào dạy học là lắp cho mỗi phòng học một hệ thống máy chiếu, máy tính, màn hình,... thay thế viết bảng còn cách dạy như thế nào thì không cần biết,... Năm học 2008 - 2009, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo có khoảng một triệu giáo viên, trong đó giảng viên đại học, cao đẳng là gần 60 nghìn; giáo viên phổ thông khoảng 800 nghìn, giáo viên trung cấp nghề là khoảng 250 nghìn, rất đông trong số này cần phải được "xóa mù" về tin học.

Để chủ trương đẩy mạnh ứng dụng CNTT đi vào thực tiễn Giáo dục, trở thành thói quen, nếp nghĩ của cả người quản lý, cả thày và trò, ngoài ý chí, quyết tâm của các cấp lãnh đạo thì ý thức chủ động vào cuộc của mỗi cá nhân, mỗi cơ sở Giáo dục và ĐT vẫn là nhân tố có ý nghĩa quyết định. CNTT cho dù có được ứng dụng đến mức độ nào đi nữa thì về cơ bản vẫn chỉ là yếu tố phương tiện hữu ích, không thể hoàn toàn thay thế cho vai trò của thầy và trò trong hoạt động tổ chức dạy-học.

ĐÔI NÉT VỀ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN E-LEANING: E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới. Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning.

·       E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton).

·       E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc).

·       E-Learning là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center).

·       E-Learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT ) ( Sun Microsystems, Inc ).

·       Theo quan điểm hiện đại, E-Learning là việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo, học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân,...người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video,…

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung E-Learning đều có những điểm chung sau:

    Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…

   E-Learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do E-Learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người.

   E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức. Hiện nay, E-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning ra đời.

Text Box: Các kiểu trao đổi thông tin trong E-Learning:   Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous). Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp,… Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra. Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học.

Một số hình thức E-learning:

1. Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT-Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng CN, đặc biệt là dựa trên CN thông tin.

2. Đào tạo dựa trên máy tính (CBT-Computer-Based Training). Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính. Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training.

3. Đào tạo dựa trên web (WBT-Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web. Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web. Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail,... thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình.

4. Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên...

5. Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm. Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web.

Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning: E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ. Ở châu Âu E-learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn.

Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90. Theo số liệu thống kê của ASTD (“American Society for Training and Development” - Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến. Theo các chuyên gia phân tích của IDC (“International Data Corporation” - Công ty dữ liệu quốc tế), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999-2004. E-learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty, việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao. Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force,...

Trong những năm gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục. Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục. Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm. Ngoài việc tích cực triển khai E-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning. Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE. Đây là mạng E-learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu.

Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì rất nhiều lý do: luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia,... Tuy vậy, đây chỉ là những rào cản tạm thời. Nhu cầu đào tạo ở châu lục này đang buộc các quốc gia dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại. Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,... đang có nhiều nỗ lực phát triển E-learning. Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực. Môi trường ứng dụng E-learning của Nhật chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp,... 

Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam: Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở Việt Nam không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như “Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000”, “Hội nghị giáo dục đại học năm 2001”  và gần đây là “Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003” , “Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004”, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.

Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning. Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP. HCM, ĐHC THO, Học viện Bưu chính Viễn thông,... Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-learning trên thế giới và ở Việt Nam. Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo. Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E-learning ở Việt Nam. Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu Á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông...

Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước.

Kết hợp e-Learning với cách học truyền thống: E-Learning không thể thay thế hoàn toàn cách học truyền thống. E-Learning thuần tuý không phải là một giải pháp hoàn hảo. Chúng ta nên và cần kết hợp cả hai cách học tập: E-Learning và truyền thống để đem lại hiệu quả cao nhất cho người học. Giải pháp kết hợp này được gọi là BLENDED SOLUTION.

                                                                                                     Nguyễn Tiến Mâu

 

Tác giả bài viết: THẦY NGUYỄN TIẾN MÂU - TỔ PPDHTV KHOA NGỮ VĂN - ĐHSP HÀ NỘI

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Văn bản - Thông báo mới

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường