07:18 +07 Thứ tư, 20/09/2017




Liên kết






   




Trang nhất » Tin Tức » Tin đào tạo

NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM

Thứ ba - 03/01/2012 11:08
NÂNG CAO NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG HẢI DƯƠNG
 
 
Ngày nay, đổi mới giáo dục  diễn ra ở nhiều nước trên thế giới. Các nước đều cần nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao cho sự phát triển  và tiến bộ hơn nữa của mình. Vì thế, đổi mới giáo dục  diễn ra quyết liệt không chỉ ở các nước có nền giáo dục  kém phát triển mà còn ở các nước mà nền giáo dục đã đạt đến trình độ phát triển.  Đổi mới giáo dục  là tạo ra những con người làm chủ tương lai của bản thân và xã hội. Không những làm thỏa mãn yêu cầu của hiện tại,  nó còn phải tiên lượng các đòi hỏi của đời  sống tương lai để đáp ứng. Vì thế mà đổi mới giáo dục  khó hơn các cuộc đổi mới khác và về bản chất nó là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chiến lược hoạch định tương lai của đất nước.
          Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định rõ:  Con người là trung tâm  của
chiến lược phát triển; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược; đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
 
Đổi mới giáo dục là công việc của Nhà nước, nhà trường, gia đình và xã hội. Yếu tố quyết định mức độ thành công  công cuộc đổi mới giáo dục là năng lực của  người thầy.
Mong muốn góp phần vào  công cuộc đổi mới giáo dục và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trong  bài viết này chúng tôi nêu ra một cách  nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên sư phạm Trường Cao đẳng  Hải Dương.
1. Quan niệm về Năng lực Sư phạm
Năng lực Sư phạm là công việc chuyên môn của nghề dạy học. Trong lĩnh vực giáo dục, Năng lực Sư phạm  là khoa học về công việc chuyên môn của nghề dạy học.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học, giáo viên  Trung học cơ sở, giáo viên  Trung học phổ thông đề cập đến 5 loại năng lực có liên quan đến năng lực Năng lực Sư phạm:
                   - Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục;
                   - Năng lực dạy học;
                   - Năng lực giáo dục;
                   - Năng lực hoạt động chính trị, xã hội;
                   - Năng lực phát triển nghề nghiệp.
Như vậy, Năng lực Sư phạm có thể được hiểu là tổ hợp những kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết để thực hiện thành công các công việc chuyên môn của nghề dạy học theo những tiêu chuẩn, tiêu chí đặt ra đối với từng công việc đó.
Năng lực sư phạm được phát triển trong suốt cả cuộc đời hoạt động nghề nghiệp của giáo viên ; trong đó giai đoạn đào tạo ban đầu ở các trường sư phạm hoặc cơ sở giáo dục có đào tạo giáo viên giữ vai trò nền tảng. Vấn đề đặt ra đối với các trường sư phạm là làm thế nào để khẳng định được rằng: người được đào tạo về Năng lực sư phạm  sẽ dạy học,  giáo dục học sinh tốt hơn người không được đào tạo  về nội dung này.
Hiện nay, trường Cao đẳng  Hải Dương là trường  Cao đẳng  đa ngành. Nhà trường đào tạo các ngành thuộc khối ngành kinh tế, các ngành thuộc khối ngành xã hội và nhân văn, các ngành thuộc khối ngành Sư phạm(đào tạo giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học và giáo viên  Trung học cơ sở), trong đó khối ngành Sư phạm là nòng cốt. Trải qua 51 năm xây dựng và phát triển, nhà trường luôn đồng hành cùng Giáo dục & đào tạo cả nước, đã góp phần khẳng định Giáo dục & đào tạo Hải Dương  là đơn vị mạnh trong phạm vi cả nước.
 
2. Nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên sư phạm ở trường Cao đẳng  Hải Dương
 
Đổi mới giáo dục theo định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá nhất thiết đưa Giáo dục Việt nam  hội nhập với Giáo dục khu vực và thế giới. Điều này đòi hỏi nhà trường nhất thiết phải đào tạo sinh viên đạt chuẩn nghề nghiệp của quốc gia, phát triển nhanh, bền vững  hướng  đến chuẩn giáo dục của khu vực và thế giới. Đối với nghề sư phạm, nhà trường đào tạo năng lực sư phạm cho sinh viên theo quy trình sau đây:
2.1. Xây dựng hệ thống chuẩn đào tạo Sư phạm
 
Từ năm 2005, nhà trường đã tổ chức nghiên cứu vấn đề Kiểm định và đảm bảo chất lượng đối với các ngành đào tạo giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học, giáo viên  Trung học cơ sở thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu quan trọng thứ nhất của các đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề Kiểm định và đảm bảo chất lượng là hệ thống chuẩn đào tạo đối với từng chuyên ngành đào tạo.
Đến năm 2007, 2008, 2009, Căn cứ Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học, giáo viên  Trung học cơ sở, giáo viên  Trung học phổ thông và Chuẩn nghề nghiệp giáo viên một số nước trong khu vực và quốc tế, căn cứ thực tiễn giáo dục của Hải Dương và các tỉnh khác, nhà trường đã hoàn chỉnh hệ thống chuẩn đào tạo. Nhà trường đã xây dựng chuẩn đầu ra, chuẩn học phần cho  Khối kiến thức: Giáo dục đại cương, khoa học chuyên ngành, khoa học giáo dục, trong đó  chuẩn đào tạo Sư phạm là yêu cầu bắt buộc ngay cả với các học phần của  Khối kiến thức: Giáo dục đại cương, khoa học cơ bản. Năng lực Sư phạm được  phân tích thành hệ thống các công việc, kĩ năng cụ thể; kết quả của việc phân tích này là lập được danh mục các kĩ năng nghiệp vụ Sư phạm. Ví dụ: Sinh viên tốt nghiệp ngành Sư phạm phải giải được tất cả các bài tập trong sách giáo khoa, thiết kế giáo án, dạy được tất cả các bài trong chương trình với sự hỗ trợ của máy tính và phương tiện dạy học hiện đại, trong đó thiết kế ít nhất một giáo án, một đề kiểm tra bằng Tiếng Anh.
 
2.2. Xây dựng nội dung chi tiết, chương trình chi tiết, kế hoạch đào tạo Sư phạm, thiết kế tập bài giảng tích cực
Trong những năm gần đây, Năng lực của sinh viên khi nhập trường ngày càng thấp thể hiện qua mức độ thấp của điểm chuẩn tuyển sinh và kĩ năng sống, kĩ năng nói trước đám đông, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, ngoại ngữ, tin học. Tuy nhiên, mục tiêu của sinh viên tốt nghiệp quá trình đào tạo ngày càng  cao: có việc làm tốt và học lên các bậc học cao hơn.
Mặt khác, có thời gian dài đã  tồn tại nghịch lí sau đây ở nhà trường:
- Các giáo trình, chương trình dùng cho Giáo dục đại cương, khoa học cơ bản chỉ có yêu cầu và nội dung của chính khoa học đó, không thấy  yêu cầu và nội dung của  khoa học Giáo dục.
- Kiểu tư duy và dạy học tách biệt. Tách biệt giữa chuyên môn và mục tiêu đào tạo. Giảng viên bộ môn nào chỉ biết chuyên môn của mình. Giảng viên bộ môn
Giáo dục đại cương, khoa học cơ bản không quan tâm đến đào tạo năng lực Sư phạm.
Cần xóa bỏ nếp tư duy tách biệt; cần chuyển sang tư duy xuyên môn, liên môn, tư duy tích hợp, phức hợp để trả lời các câu hỏi: Cái gì dạy ở phổ thông? Dạy cái gì ở trường cao đẳng Hải Dương? Dạy như thế nào ở phổ thông?
 Từ thực tiễn này, quán triệt tư duy xuyên môn, liên môn, tư duy tích hợp, phức hợp,  nhà trường căn cứ vào nội dung, chương trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo của bậc học Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, chương trình khung các ngành đào tạo Sư phạm của Trường và của Trường  Đại học có đào tạo Sư phạm để  xây dựng nội dung chi tiết, chương trình chi tiết, kế hoạch đào tạo Sư phạm, thiết kế tập bài giảng tích cực, biên soạn tài liệu tham khảo với sự hỗ trợ của máy tính và phương tiện dạy học hiện đại, ở đó danh mục các kĩ năng nghiệp vụ Sư phạm và quy trình thực hiện cho từng kĩ năng đó  được thâm nhập, liên kết với tất cả các học phần trong chương trình đào tạo và đảm bảo tính liên thông lên đại học.
2.3. Xây dựng phương pháp dạy học tích cực
 
Kết quả nghiên cứu quan trọng thứ hai của các đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề Kiểm định và đảm bảo chất lượng đối với đào tạo giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học, giáo viên  Trung học cơ sở là  Xây dựng phương pháp dạy học tích cực đối với mỗi học phần trong chương trình đào tạo của từng chuyên ngành. Phương pháp dạy các học phần  của khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với chuyên ngành đào tạo giáo viên Tiểu học là  Phương pháp Thảo luận, Phương pháp dạy học Dự án với yêu cầu gắn kết với Nghiệp vụ Sư phạm Tiểu học,
liên môn với học phần Phương pháp dạy  học  Đạo đức ở Tiểu học. Phương pháp dạy các học phần  của khoa học giáo dục đối với  ngành đào tạo giáo viên Mầm non Phương pháp Vấn đáp- Thực hành, Phương pháp kiến tạo, Phương pháp Thảo luận, Phương pháp dạy học Dự án với yêu cầu gắn kết với Nghiệp vụ Sư phạm Mầm non. Phương pháp dạy các học phần  của khoa học Toán học đối với  ngành đào tạo giáo viên toán Trung học cơ sở  là Phương pháp Nêu vấn đề giải quyết vấn đề, Phương pháp dạy học Dự án với yêu cầu gắn kết với Nghiệp vụ Sư phạm Trung học cơ sở.
2.4. Xây dựng phương pháp kiểm tra, đánh giá tích cực
 
Kết quả nghiên cứu quan trọng thứ ba của các đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề Kiểm định và đảm bảo chất lượng đối với các ngành đào tạo giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học, giáo viên  Trung học cơ sở  là  Xây dựng phương pháp kiểm tra, đánh giá tích cực đối với mỗi học phần, thi tốt nghiệp.   
Hình thức thi được áp dụng phổ biến là: Tiểu luận, Bài tập lớn, Vấn đáp – Thực hành.
Tất cả các đề thi phải có nội dung thi về năng lực sư phạm với trọng số ít nhất 40%.
Mời các chuyên gia giáo dục, giáo viên dạy giỏi ở bậc học Mầm non,  Tiểu học, Trung học cơ sở  tham giakiểm tra, đánh giá cùng giáo viên của trường. Cách làm này khắc phục tính biệt lập giữa nhà trường và cơ sở sử dụng sản phẩm đào tạo.
 
2.5. Xây dựng chương trình giáo dục bổ trợ
 
Kết quả nghiên cứu quan trọng thứ năm của các đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề Kiểm định và đảm bảo chất lượng là Xây dựng chương trình giáo dục bổ trợ. Chương trình này gồm các nội dung về Công tác sinh viên, Công tác Đoàn thanh niên- Hội sinh viên, Tư vấn và Hỗ trợ việc làm. Chương trình được thực hiện thông qua các cuộc thi Nghiệp vụ Sư phạm, Hội thi thanh lịch, Hội thi tiếng hát học sinh- Sinh viên, Sàn giao dịch việc làm.
 
2.6. Xây dựng phương pháp học tích cực  
 
Kết quả nghiên cứu quan trọng thứ tư của các đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề Kiểm định và đảm bảo chất lượng là Xây dựng phương pháp học tích cực với sự hỗ trợ của giảng viên. Đối với mỗi bài giảng, giảng viên hướng dẫn sinh viên tự học theo ba bước: học  bài giảng trước khi lên lớp, học bài giảng ở lớp, học  bài giảng trước khi lên lớp theo hệ thống câu hỏi. Sinh viên thu thập, tra cứu thông tin bài giảng qua mạng. Nghiên cứu khoa học giáo dục là yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên. Sản phẩm của nghiên cứu này Tập giáo án điển hình, Tuyển tập các đề toán, các đề kiểm tra điển hình, các bài báo dành cho các tạp chí Toán học Tuổi thơ, Toán học Tuổi trẻ, Hoa học trò, Chăm học.
2.7. Gắn kết chặt chẽ với ngành Giáo dục – đào tạo Hải Dương
Mối quan hệ giữa nhà trường với Sở Giáo dục và đào tạo, các Phòng Giáo dục và đào tạo, các trường thực hành Sư phạm thực sự chặt chẽ. Nhà trường tìm Vấn đề thời sự của Giáo dục để nghiên cứu và ứng dụng trong toàn ngành Giáo dục và đào tạo Hải Dương. Năm 2005, 2006, 2007, Sở giáo dục và đào tạo đã cấp kinh phí cho nhà trường nghiên cứu đề tài: Thiết kế giáo án điện tử trong chương trình dạy học ở Tiểu học và Trung học cơ sở. Kết quả của đề tài này đã tác động tích cực đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học trong toàn tỉnh. Hằng năm, nhiều giáo viên của trường được các trường, các Phòng giáo dục và đào tạo, Sở giáo dục và đào tạo tham gia Hội thảo chuyên đề, Hội thi,  tham gia vào đổi mới Giáo dục.
Sở Giáo dục và đào tạo, các Phòng Giáo dục và đào tạo, các trường thực hành Sư phạm  đã phối hợp rất hiệu quả trong công việc nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên nhà trường.
Với cách đào tạo năng lực sư phạm như trên, chất lượng đào tạo Sư phạm đáp ứng tốt các yêu cầu của ngành Giáo dục Hải Dương. Nhiều sinh viên đã được đánh giá đạt tương đương danh hiệu giáo viên dạy giỏi khi còn đang học.
Nhiều giáo viên dạy giỏi ở bậc học Mầm non,  Tiểu học, Trung học cơ sở đều là sinh viên mới tốt nghiệp của trường. Các giáo viên cốt cán ở bậc học Mầm non,  Tiểu học, Trung học cơ sở đều được đào tạo ở trường.
                                     
 
TRƯỜNG CAO ĐẲNG HẢI DƯƠNG
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đơn vị trực thuộc

Video giới thiệu nhà trường





Tuyển sinh 2017